Chương 1: Tổng quan nghiên cứu - Chương 2: Cơ sở lý luận, mô hình và giả thuyết nghiên cứu - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu - Chương 4: Kết quả nghiên cứu - Chương 5: Bàn luận kết quả nghiên cứu và khuyến nghị luan an 7 Chƣơng 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Các tiêu chí phản ánh kết quả tìm việc trở lại của ngƣời thất nghiệp Ngay từ cuối những năm 1990, các nghiên cứu khẳng định rằng kết quả tìm việc trở lại (return to work outcomes) là một phạm trù khá phức tạp và cần xây dựng những yếu tố đa chiều, vì những tiêu chí thành phần dùng để đo lường kết quả tìm việc trở lại thường có mối quan hệ với nhau. Brasher và Chen (1999) đã xem xét hai mô hình lý thuyết ở cấp độ cá nhân và cấp độ tổ chức để đề xuất các tiêu chí đo lường kết quả tìm việc trở lại của người thất nghiệp, gồm: - Tiêu chí đầu tiên được tác giả đưa ra đó là thời gian tìm việc, thể hiện khoảng thời gian để người thất nghiệp tìm được việc sau khi thất nghiệp, đây cũng chính là khoảng thời gian thất nghiệp mà trước đó cũng được đề xuất bởi Dyer (1973).
- Tiêu chí thứ hai là mức lương của công việc sau thất nghiệp, tương đồng với tiêu chí được đưa ra sau này bởi Granovetter (2018). Tuy nhiên hiện nay, mức lương là chưa đủ phản ánh tình trạng tài chính của NLĐ, thay vào đó tác giả nên xem xét mức thu nhập, bao gồm cả những thu nhập ngoài lương (Chandola và Zhang, 2018). - Tiêu chí thứ ba là mức độ phù hợp giữa trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề với công việc hiện tại. Mức độ phù hợp thấp giữa trình độ chuyên môn và yêu cầu của công việc có thể ảnh hưởng đến mức độ tham gia vào công việc của NLĐ cũng như có thể làm phát sinh căng thẳng trong công việc (Lazarus, 1995; Rabinowitz và Hall, 1977).
- Thứ tư, sự hài lòng về công việc mới, được thể hiện bằng việc NLĐ có sẵn sàng làm công việc này lâu dài hay không. Tuy nhiên, tiêu chí này rất khó để lượng hoá, do nó phụ thuộc rất nhiều vào thời điểm trả lời, vào cảm xúc của người trả lời tại thời điểm hỏi. - Thứ năm là khả năng gắn bó lâu dài ở công việc mới dùng để đánh giá hiệu quả tìm việc. Ý định có làm việc lâu dài hay không được dùng để đánh giá hiệu quả của thông tin việc làm và công tác tuyển dụng.
- Tiêu chí cuối cùng được đề cập là số lượng cuộc phỏng vấn tham gia và số lượng lời mời làm việc nhận được khi tìm việc. Tuy nhiên thực tế tiêu chí này chỉ phản ánh được mức độ tích cực trong khi tìm việc hơn là kết quả tìm việc trở lại vì đôi khi có người chỉ cần nhận được một lời mời làm việc hoặc một cuộc luan an 8 phỏng vấn đã tìm được việc, còn có người lại thất bại sau nhiều lần phỏng vấn. Thực tế, Saks và Ashforth (2000) đã chứng minh rằng số lượng lời mời làm việc hay số cuộc phỏng vấn việc làm không thực sự phản ánh năng lực tìm việc hay chất lượng tìm việc của người thất nghiệp. Có thể dễ dàng nhận thấy sự hài lòng về công việc mới (job satisfaction) đã bao hàm cả 5 tiêu chí còn lại.
Khi một người thất nghiệp tìm được công việc phù hợp với chuyên ngành đào tạo hoặc kinh nghiệm làm việc của họ thì sẽ phần nào giúp họ có sự hài lòng với công việc mới, từ đó họ sẽ gắn bó với công việc hơn. Bên cạnh đó, nếu chỉ xét riêng về sự phù hợp giữa bằng cấp chuyên môn với công việc thì chưa hoàn toàn phản ánh được năng lực làm việc của NLĐ, mà cần xem xét thêm cả sự phù hợp với kinh nghiệm làm việc. Trong thực tế nhiều lao động làm công việc không đúng với chuyên ngành/chứng chỉ được đào tạo nhưng sau thời gian dài làm việc, được đào tạo tại nơi làm việc họ đã lành nghề. Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng trong quá trình tìm việc và biểu hiện của kết quả tìm việc, Kanfer và cộng sự (2001b) đã đề ra 3 tiêu chí phản ánh kết quả tìm việc trở lại bao gồm: (i) tình trạng việc làm tại thời điểm phỏng vấn; (ii) Thời gian tìm việc; (iii) số lượng lời đề nghị làm việc.
Tuy nhiên, tác giả đã bỏ qua tiêu chí về mức thu nhập ở công việc mới, đây là một tiêu chí quan trọng. Đối với phần lớn những người thất nghiệp, tìm được việc trở lại nhằm giúp họ phục hồi ở nhiều khía cạnh, trong đó quan trọng nhất là khía cạnh tài chính (Koenig và cộng sự, 2015). Bên cạnh đó, áp dụng trong bối cảnh tại Việt Nam hiện nay, một bộ phận lớn người thất nghiệp vẫn tìm việc theo các cách truyền thống (ví dụ: tìm việc qua giới thiệu của người thân, bạn bè, nộp trực tiếp hồ sơ tại công ty tuyển dụng hoặc tìm việc thông qua trung tâm DVVL), do đó việc để tiêu chí về số lượng lời đề nghị làm việc đại diện cho kết quả tìm việc trở lại là chưa thực sự thoả đáng. Wanberg và cộng sự (2002) đã xây dựng mô hình lý thuyết về các tiêu chí phản ánh tìm việc trở lại thành công (reemployment success) thông qua tổng quan lại các nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm dự báo về việc dừng hưởng BHTN, tốc độ tìm việc trở lại và chất lượng tìm việc trở lại.
Sau đó các tác giả đã bổ sung các bằng chứng thực nghiệm từ phỏng vấn với những người tìm việc và nhân viên làm việc tại Trung tâm LLLĐ Monnesota để khái niệm hoá kết quả tìm việc trở lại bao gồm 5 tiêu chí. Hai tiêu chí đầu tiên là tốc độ tìm việc trở lại và việc dừng hưởng BHTN. Hai tiêu chí tiếp theo đó là sự cải thiện trong công việc mới (đại diện cho một nhóm các đặc điểm được cải thiện như tiền lương, thời luan an 9 gian làm việc, khoảng cách từ nhà đến nơi làm việc, an toàn công việc, cơ hội nghề nghiệp…) và sự phù hợp với công ty mới (thể hiện sự phù hợp giữa chuyên môn đào tạo với vị trí việc làm và lĩnh vực của công ty). Tiêu chí cuối cùng là về ý định làm việc lâu dài tại công ty mới.
Tuy nhiên có thể dễ thấy sự trùng lắp trong nội hàm của hai tiêu chí đầu tiên (tốc độ tìm việc trở lại và dừng hưởng BHTN), cả hai đều thể hiện bằng thời gian thất nghiệp hoặc thời gian tìm được việc mới sau khi thất nghiệp. Ở tiêu chí về cải thiện trong công việc mới, đây là một tiêu chí đa chiều được đo lường bằng một nhóm các tiêu chí phụ, tác giả có thể tách rời các tiêu chí phụ hoặc lựa chọn một vài tiêu chí có tác động lớn nhất để đo lường một cách cụ thể hơn là việc gộp chung thành một tiêu chí. Pransky và cộng sự (2005) cho rằng mặc dù có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề tìm việc của người thất nghiệp, khái niệm về tìm việc trở lại thường được xác định khá mơ hồ và không có sự đồng nhất quan điểm về yếu tố cấu thành tạo nên kết quả tìm việc. Các tác giả kết luận, tìm việc trở lại là một quá trình và cũng là một kết quả mà có thể được đo lường bởi nhiều cách khác nhau, nhiều phương pháp khác nhau.
Young và cộng sự (2005a) cũng cho rằng thuật ngữ tìm việc trở lại đã được dùng rất thông dụng, tuy nhiên mức độ sử dụng với cùng một ý nghĩa lại rất hạn chế. Các tác giả cho rằng kết quả tìm việc trở lại là một khái niệm mô tả đặc điểm có thể đo lường được của tình trạng quay lại làm việc của NLĐ. Kết quả có thể xuất hiện dưới dạng một quá trình và bao gồm những tiêu chí như tình trạng việc làm, sự hài lòng với công việc, sự thăng tiến. Tuy nhiên, tiêu chí sự hài lòng với công việc là một tiêu chí đa chiều, được cấu thành từ rất nhiều tiêu chí như hài lòng về địa điểm làm việc, môi trường làm việc, mức thu nhập.
và kể cả sự thăng tiến trong công việc. Mà những tiêu chí thành phần này cần được đo lường riêng lẻ. Bên cạnh đó, sự thăng tiến trong công việc sẽ phù hợp hơn đối với lao động có kỹ năng, trình độ đào tạo tốt, còn đối với lao động phổ thông hoặc trình độ đào tạo không cao thì sự thăng tiến trong công việc sẽ không nhiều sau một khoảng thời gian ngắn sau trở lại làm việc, do vậy rất khó để đo lường. Wasiak và cộng sự (2007) cũng cho rằng: (i) Kết quả tìm việc trở lại là đa chiều, do vậy đo lường kết quả tìm việc trở lại cần phải có phương pháp đa chiều, và (ii) Một trong những kết quả quan trọng khi tìm việc là sự hài lòng của NLĐ với công việc mới.
Đối với những người đã quay lại làm việc sau thất nghiệp, hài lòng với các điều kiện làm việc là rất quan trọng. Thông qua tổng quan hơn 2,500 nghiên cứu được công bố trong giai đoạn 1985 đến 2006 trong 3 cơ sở dữ liệu (PubMed, Econlit và PsycInfor) mà có sử dụng thuật ngữ tìm việc trở lại, tác giả luan an 10 đã tổng hợp được 3 tiêu chí chính của kết quả tìm việc trở lại đó là tìm được việc, duy trì công việc (thể hiện nguyện vọng làm việc lâu dài) và thăng tiến/phát triển sự nghiệp (career advancement). Bên cạnh đó, tiêu chí thăng tiến trong công việc khi tìm được việc thường chỉ phù hợp đối với lao động có kỹ năng, trình độ nghề nghiệp bậc trung trở lên hơn là lao động phổ thông, tác giả cũng chưa đề cập đến sự đáp ứng kỳ vọng của NLĐ về mức thu nhập mới. Rõ ràng, một trong những động lực chính của NLĐ trong công việc là tiền lương/thu nhập, nhất là khi NLĐ quay lại sau 1 khoảng thời gian thất nghiệp thì tiêu chí này càng trở nên quan trọng hơn.
Những người thất nghiệp ở bất kỳ độ tuổi nào đều gặp phải vấn đề khó khăn về tài chính và suy giảm phúc lợi xã hội (McKee-Ryan và cộng sự, 2005). Gần đây, Wanberg và cộng sự (2016) đã nghiên cứu và đề xuất một mô hình tích hợp nhằm phân tích mối quan hệ giữa tuổi thời gian (chronological age) và kết quả tìm việc sau thất nghiệp.