Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU ĐỊNH HƯỚNG VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN 1. Những khái niệm liên quan 1. Việc làm Đã có những khái niệm việc làm được đưa ra từ nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau, vì vậy chưa có một định nghĩa chung, khát quát nhất về việc làm. Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì khái niệm việc làm chỉ đề cập đến trong mối quan hệ với lực lượng lao động.
Khi đó, việc làm được phân thành hai loại: Có trả công (những người làm thuê, học việc…) và không được trả công nhưng vẫn có thu nhập (giới chủ làm kinh tế gia đình…). Vì vậy, việc làm được coi là hoạt động có ích mà không bị pháp luật ngăn cấm có thu nhập bằng tiền (hoặc bằng hiện vật). Những người có việc làm là những người làm một việc gì đó có được trả công, lợi nhuận, được thanh toán bằng tiền hoặc hiện vật, hoặc tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập của gia đình, không được nhận tiền công (hiện vật). Tại điều 9, chương II, Bộ Luật lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm 2012) đã ghi rõ: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật ngăn cấm.
Hay như tác giả Nguyễn Thị Kim Phụng cho rằng: “Việc làm là những hoạt động lao động hợp pháp, mang tính nghề nghiệp và tương đối ổn định, tạo ra thu nhập hoặc có khả năng tạo ra thu nhập cho người thực hiện. 14 Như vậy, khái niệm việc làm có thể hiểu là hoạt động lao động của con người nhằm mục đích tạo ra thu nhập và hoạt động này không bị pháp luật ngăn cấm. Định hướng việc làm Các nhà tâm lý học Mỹ cho rằng: “Hướng nghiệp là một quá trình giúp cho cá nhân tìm hiểu nghề và những phẩm chất nhân cách của mình, trên cơ sở đó lựa chọn một nghề phù hợp. 25] Theo tác giả Đặng Danh Ánh: “Hướng nghiệp là một hoạt động của các tập thể sư phạm, của các cán bộ thuộc các cơ quan, nhà máy khác nhau được tiến hành giúp cho học sinh chọn nghề đúng đắn phù hợp với năng lực, hứng thú, thể lực và tâm lý của cá nhân, với nhu cầu nhân lực của xã hội.
Hướng nghiệp là một bộ phận cấu thành của quá trình giáo dục – học tập trong nhà trường. 26] “Bên cạnh đó, hướng nghiệp còn được hiểu là hệ thống biện pháp tác động xã hội (gia đình, nhà trường, xã hội) đến nhận thức, thái độ và hành vi lựa chọn nghề và trường đào tạo nghề của thanh niên. Kết quả là làm thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi chọn nghề (chọn trường học) của đối tượng theo chiều hướng tạo ra sự phù hợp giữa sự lựa chọn của cá nhân với các yêu cầu của nghề được chọn, qua đó đảm bảo lợi ích tối đa của cá nhân và xã hội, khai thác và sử dụng triệt để khả năng, tiềm năng và ưu thế của cá nhân trong việc hành nghề trong suốt cuộc đời và đảm bảo sự khai thác hợp lý nguồn nhân lực trong sự phát triển kinh tế của xã hội. 27] Nói cách khác, “hướng nghiệp là quá trình giúp các cá nhân nhận biết về bản thân họ, giá trị và năng lực của họ và những yêu cầu của thế giới công việc để họ có quyết định chín chắn về nghề nghiệp mà học sẽ chọn.
Sinh viên Theo Từ điển Giáo dục học thì “Sinh viên” là người học của một cơ sở giáo dục cao đẳng, đại học. Có thể phân loại sinh viên đại học theo những phạm trù khác nhau. “Do nhu cầu thống kê, người ta có thể phân biệt sinh viên thông thường và sinh viên thuộc hệ thống giáo dục không chính quy (giáo dục thường xuyên) và có một hệ số quy đổi từ sinh viên không chính quy sang sinh viên chính quy. Lý thuyết nghiên cứu Có rất nhiều lý thuyết có thể áp dụng vào lý giải vấn đề này.
Tuy nhiên, trong phạm vi của luận văn này, tác giả khóa luận áp dụng lý thuyết sự lựa chọn hợp lý và lý thuyết hệ thống để luận giải cho vấn đề nghiên cứu của mình. Lý thuyết về sự lựa chọn hợp lý Friedman và Hechter đưa ra khái niệm “lựa chọn hợp lý”, trong đó nhấn mạnh vai trò của các cá nhân [19]. Nội dung của cá nhân là đạt đến những hành động, mục tiêu và động cơ thực hiện những giá trị. Trong quá trình này cá nhân đó đạt đến mục tiêu trong khi hành động.
Lý thuyết này đề cập đến khả năng thích ứng của con người trong việc lựa chọn cho mình một công việc nào đó phù hợp với khả năng của mình. Vấn đề quan trọng ở lý thuyết lựa chọn hợp lý này là đề cao vai trò của cá nhân. Khả năng đáp ứng và thích ứng các tác động bên ngoài. Những người nào có năng lực hơn thì khả năng thích ứng cao hơn.Homans, ông cho rằng chủ thể hành động luôn cân nhắc, tính toán kỹ lưỡng những loại hành động đang đặt trước mắt của chủ thể hành động [19].
Cá nhân so sánh tổng số phần thưởng liên quan đến quá trình hành động, tính toán khả năng thực tế về việc đạt tới phần thưởng và tính tới tính 16 chất thời thượng, tính chất thừa nhận của những giá trị xã hội, coi đó là những phần thưởng kích thích hành vi. Nếu những phần thưởng có giá trị vật chất cao nhưng đối với một người coi trọng giá trị đạo đức và tinh thần thì chưa chắc phần thưởng vật chất đó đã trở thành hợp lý trong quá trình lựa chọn. Do đó, khi sinh viên định hướng chọn một công việc phù hợp với truyền thống gia đình tuy mang lại thu nhập không cao nhưng họ xem đó là một công việc phù hợp với bản thân. Chính vì lý thuyết này đề cao vai trò của cá nhân, cho nên sự lựa chọn hợp lý của cá nhân này chưa hẳn đã hợp lý với cá nhân khác, điều quan trọng ở đây là công việc đó là sự lựa chọn hợp lý đối với cá nhân đã thực hiện lựa chọn.
Lý thuyết hệ thống Lý thuyết hệ thống nhấn mạnh rằng mỗi cá nhân là một cá thể sống trong một hệ thống phức tạp, đa dạng và chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố khác nhau như gia đình, bạn bè, cộng đồng, bối cảnh chính trị, hoàn cảnh kinh tế xã hội, hệ thống giáo dục và nhiều thiết chế, yếu tố khác nữa. Sự ảnh hưởng của từng yếu tố chủ quan và khách quan đối với quyết định chọn nghề của mỗi người không như nhau vì nó còn tùy thuộc vào từng thời điểm, nhận thức, khả năng và phản ứng của mỗi người trước từng yếu tố. Tất cả những yếu tố này ảnh hưởng rất nhiều đến việc nhận thức, làm quen, học hỏi, quyết định lựa chọn và phát triển nghề nghiệp của mỗi cá nhân như một quá trình xã hội hóa. Cơ sở thực tiễn 1.
Tổng quan về hoạt động đào tạo của trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh là trường đại học với ngành đào tạo mũi nhọn là ngành tài chính – ngân hàng, cung cấp nguồn lực chất lượng cao cho các doanh nghiệp cũng như các ngân hàng trong và ngoài nhà nước. Trường hiện đóng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, là 17 trung tâm văn hóa – khoa học – kỹ thuật, có tầm quan trọng đặc biệt về nền kinh tế – chính trị của cả nước và cũng là nơi mà áp lực cạnh tranh giữa các trường đại học cùng khối ngành diễn ra rất gay gắt. Cùng với việc phát triển các chuyên ngành đào tạo mới, quy mô đào tạo của trường đã tăng lên nhanh chóng. Trường hiện đang cung cấp dịch vụ giáo dục đại học chính quy ở 07 ngành đào tạo gồm: Tài chính – Ngân hàng; Kế toán – Kiểm toán; Quản trị kinh doanh; Hệ thống thông tin quản lý; Ngôn ngữ Anh; Kinh tế quốc tế và Luật kinh tế.
Bên cạnh đó, người học có thể tham gia học cùng lúc hai ngành đào tạo tại Trường (học song ngành) nếu phù hợp với các quy định, quy chế đào tạo của Trường. Chương trình giáo dục đại học mà Trường cung cấp cho người học khối lượng 129 đơn vị tín chỉ, chưa kể các học phần Giáo dục thể chất (5 đơn vị tín chỉ) và Giáo dục quốc phòng (8 đơn vị tín chỉ), trong thời gian đào tạo 4 năm. Chương trình giáo dục đại học của Trường phát triển theo hướng cung cấp nền tảng nghề nghiệp chắc chắn cho người học với khối lượng đào tạo kiến thức – kỹ năng nghề nghiệp ngành và chuyên ngành chiếm tới 2/3 tổng tín chỉ được đào tạo. Hoạt động đào tạo của Trường được tổ chức đa dạng với các bậc, hệ đào tạo khác nhau.
Tính đến 31/12/2017, tổng số sinh viên của Nhà trường là 12.679, trong đó: Sinh viên đại học hệ chính quy: 10.290 Sinh viên đại học hệ không chính quy: 1.802 Học viên cao học: 483 Nghiên cứu sinh: 104 1. Tổng quan về hoạt động định hướng nghề nghiệp – việc làm của trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh Trong những năm qua, Trường đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh đã có một số hình thức hướng nghiệp và tổ chức các hoạt động nhằm hỗ trợ, cung cấp thông tin về việc làm cho sinh viên, cụ thể: 18 Nhà trường tổ chức thường niên “Ngày hội việc làm BUH”, tại đây đã giúp tìm kiếm hàng nghìn đầu việc toàn thời gian và bán thời gian cho sinh viên. Ngày hội thu hút lên tới khoảng 50 đơn vị tham gia. Tổ chức các chuyên đề kỹ năng nghề nghiệp và Hội thảo tư vấn về các vấn đề tâm lý, sức khỏe sinh sản, tình yêu, lối sống trong sinh viên Trường.
Với rất nhiều sinh viên mới ra trường, phỏng vấn xin việc luôn là một thử thách nhiều áp lực bởi sự non nớt về kinh nghiệm và sự thiếu tự tin về một mặt nào đó. Với mong muốn tạo cơ hội cho các bạn sinh viên năm 3, 4 nói riêng và toàn thể sinh viên nói chung có cơ hội được tiếp xúc và gặp gỡ, trao đổi với các nhà tuyển dụng đến từ các ngân hàng lớn; từ đó học hỏi kinh nghiệm phỏng vấn và có cơ hội được tham gia phỏng vấn trực tiếp, chương trình được tổ chức nhằm giúp các bạn sinh viên định hướng các kiến thức kỹ năng cần thiết cho công việc tương lai và đặc biệt là kích thích sự tự rèn luyện trong sinh viên, định hình cái tôi cá nhân, qua đó giúp tạo dấu ấn riêng trong buổi phỏng vấn.