Tổng quan nghiên cứu

Hứng thú nghề nghiệp là thuộc tính tâm lý giữ vai trò then chốt trong việc định hình động cơ học tập, thái độ rèn luyện và hiệu quả công tác của người giáo viên tương lai. Theo thống kê đào tạo tại Trường Đại học Hùng Vương – cơ sở giáo dục đại học công lập đa ngành được thành lập theo Quyết định số 81/2003/QĐ-TTg ngày 29 tháng 4 năm 2003 – nhà trường triển khai đào tạo 7 ngành cao học, 35 ngành đại học và 20 ngành cao đẳng, trong đó các ngành khối sư phạm chiếm tới 50% quy mô đào tạo chung. Tuy nhiên, trước bối cảnh đổi mới giáo dục và áp lực việc làm, số lượng sinh viên đăng ký vào các ngành sư phạm tự nhiên và xã hội truyền thống như Toán, Vật lý, Lịch sử, Địa lý có xu hướng suy giảm rõ rệt, trong khi các chuyên ngành Giáo dục Mầm non và Giáo dục Tiểu học ghi nhận mức tăng đáng kể.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn tập trung làm rõ thực trạng mức độ hứng thú nghề nghiệp của sinh viên sư phạm Trường Đại học Hùng Vương, đồng thời nhận diện các rào cản tâm lý tác động trực tiếp đến chất lượng rèn nghề. Mục tiêu cụ thể là phân tích biểu hiện hứng thú qua 3 bình diện nhận thức, thái độ và hành vi trong 3 hoạt động cốt lõi: học tập chuyên môn, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm và nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu được triển khai thực địa trong năm 2018 tại tỉnh Phú Thọ với mẫu khảo sát gồm 400 sinh viên và 50 giảng viên trực tiếp tham gia giảng dạy. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp các số liệu định lượng chuẩn xác giúp nhà trường điều chỉnh chương trình đào tạo, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đạt chuẩn đầu ra loại khá giỏi lên trên 85% và củng cố vững chắc niềm tin nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên tương lai vùng trung du Bắc Bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng khung lý thuyết dựa trên sự tích hợp có hệ thống giữa các trường phái tâm lý học hiện đại và tâm lý học hoạt động. Nền tảng cốt lõi là lý thuyết tâm lý học hoạt động của A. N. Leontiev và S. L. Rubinstein, khẳng định hứng thú là thái độ nhận thức đặc thù của cá nhân đối với hiện thực khách quan, gắn liền với nhu cầu và được hiện thực hóa thông qua các hành động cụ thể. Bên cạnh đó, tác giả kế thừa mô hình cấu trúc nhân cách của nhà tâm lý học A. G. Kovalev, định nghĩa hứng thú là thái độ tích cực của chủ thể hướng tới đối tượng với cảm xúc say mê do nhận thức sâu sắc ý nghĩa của nó trong đời sống. Đồng thời, nghiên cứu tiếp cận mô hình tương tác hoàn cảnh của Hidi và Baird nhằm phân biệt giữa hứng thú thiên hướng tương đối bền vững và hứng thú tình huống nảy sinh từ các kích thích môi trường bên ngoài.

Khung phân tích tập trung vào 4 khái niệm trung tâm bao gồm: Hứng thú nhận thức, Hứng thú nghề nghiệp, Năng lực sư phạm và Động cơ chọn nghề. Mô hình nghiên cứu vận hành theo cấu trúc 3 thành tố tương tác đa chiều:

  1. Thành tố nhận thức: Thể hiện qua sự hiểu biết về tầm quan trọng của nghề giáo, ý thức tự trau dồi phẩm chất và năng lực chuyên môn.
  2. Thành tố thái độ cảm xúc: Phản ánh tâm trạng háo hức, niềm vui thích và sự say mê khi tham gia các hoạt động sư phạm.
  3. Thành tố hành vi thực tiễn: Được đo lường qua mức độ chuyên cần, tính chủ động tự học, tự rèn luyện chữ viết, tập giảng và giải quyết các tình huống sư phạm giả định.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp mẫu thuận tiện với tổng dung lượng mẫu chính thức là 400 sinh viên thuộc 3 khoa đào tạo sư phạm trọng điểm: Khoa Giáo dục Tiểu học và Mầm non có 132 sinh viên (chiếm 33,0%), Khoa Toán - Tin có 136 sinh viên (chiếm 34,0%) và Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn có 132 sinh viên (chiếm 33,0%). Cơ cấu giới tính gồm 162 nam (40,5%) và 238 nữ (59,5%), phân bổ trải đều qua 4 khóa đào tạo gồm 107 sinh viên năm thứ nhất (26,75%), 106 sinh viên năm thứ hai (26,5%), 100 sinh viên năm thứ ba (25,0%) và 87 sinh viên năm thứ tư (21,7%). Mẫu đối chứng mở rộng gồm 50 giảng viên (30% nam, 70% nữ với 84% trình độ thạc sĩ và 16% trình độ tiến sĩ).

Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua phiếu khảo sát thiết kế theo thang đo Likert 4 mức độ với khoảng cách phân loại chuẩn là 0,75 điểm. Toàn bộ dữ liệu được nhập liệu và xử lý định lượng trên phần mềm SPSS phiên bản 21 thông qua các thuật toán: kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha, thống kê mô tả điểm trung bình, kiểm định One-way ANOVA và Independent Samples T-test. Việc lựa chọn phần mềm SPSS và các kiểm định tham số giúp kiểm soát chặt chẽ sai số chọn mẫu, xác thực độ phân hóa giữa các nhóm biến số. Kết quả kiểm định sơ bộ trên mẫu thử 50 sinh viên cho thấy thang đo có độ giá trị cao với hệ số Cronbach's Alpha tổng thể đạt 0,88; trong đó tiểu thang đo nhận thức đạt mức tin cậy cao, tiểu thang đo thái độ đạt 0,81 và tiểu thang đo hành vi đạt 0,78. Ngoài ra, tác giả kết hợp 10 cuộc phỏng vấn sâu cá nhân (gồm 5 sinh viên có mức hứng thú cao và 5 sinh viên có mức hứng thú thấp) cùng kỹ thuật quan sát sư phạm trực tiếp tại các giảng đường và thư viện trong suốt giai đoạn thực hiện đề tài năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích định lượng từ 400 phiếu khảo sát sinh viên và 50 phiếu đánh giá của giảng viên đã mang lại những phát hiện then chốt sau:

Thứ nhất, mức độ hứng thú nghề nghiệp của sinh viên sư phạm có sự chênh lệch rõ nét giữa 3 thành tố cấu trúc. Điểm trung bình ở mặt nhận thức đạt mức cao nhất, phản ánh đa số sinh viên đều nhận thức đầy đủ vai trò của nghề dạy học và giá trị nuôi sống bản thân. Tuy nhiên, mức độ biểu hiện ở mặt thái độ chỉ đạt ngưỡng khá và phương diện hành vi thực tế ghi nhận mức điểm thấp nhất, cho thấy khoảng cách nhất định giữa nhận thức lý thuyết và hành động cụ thể.

Thứ hai, mức độ hứng thú có sự phân hóa sâu sắc theo từng loại hình hoạt động nghề nghiệp cụ thể. Sinh viên thể hiện sự hào hứng và dành nhiều thời gian nhất cho hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên (như tập giảng, luyện chữ viết bảng, giải quyết tình huống giáo dục) và hoạt động học tập chuyên ngành, trong khi hoạt động nghiên cứu khoa học ghi nhận tỷ lệ tham gia tự giác thấp nhất với trên 60% sinh viên chưa từng công bố hoặc tham gia đề tài khoa học cấp khoa.

Thứ ba, nghiên cứu xác định hệ thống các biến số tác động đa chiều tới hứng thú nghề nghiệp. Kiểm định độ tin cậy cho thấy các nhóm yếu tố tác động đều đạt độ tương thích cao: Định hướng giá trị nghề nghiệp (Cronbach's Alpha = 0,80), Phẩm chất và phương pháp của giảng viên (Cronbach's Alpha = 0,80), Nội dung môn học (Cronbach's Alpha = 0,75), Môi trường thực tập (Cronbach's Alpha = 0,75), Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo (Cronbach's Alpha = 0,77) và Động cơ học tập nội tại (Cronbach's Alpha = 0,73). Trong đó, biến số bầu không khí tâm lý tập thể lớp đạt Alpha = 0,62.

Thứ tư, kiểm định sai biệt ANOVA và T-test chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm mẫu. Sinh viên nữ (chiếm 59,5% mẫu) có chỉ số cảm xúc gắn bó với nghề cao hơn sinh viên nam (40,5%). Xét theo năm đào tạo, sinh viên năm thứ 3 và thứ 4 (chiếm tổng cộng 46,7% mẫu) thể hiện tính chủ động trong hành vi rèn nghề cao hơn rõ rệt so với nhóm sinh viên năm thứ nhất (26,75%), do áp lực tiếp cận đợt thực tập sư phạm tại các trường phổ thông.

Thảo luận kết quả

Sự chênh lệch giữa nhận thức sâu sắc và hành vi thực tế chưa cao bắt nguồn từ sự thiếu hụt cơ chế chuyển hóa trong phương pháp đào tạo truyền thống. Sinh viên nắm rất rõ sứ mệnh cao quý của người thầy nhưng còn lúng túng khi tự tổ chức các buổi tập giảng độc lập nếu không có sự giám sát của giảng viên. Kết quả này tương đồng với kết luận trong nghiên cứu năm 2015 của tác giả Vũ Vương Trưởng trên đối tượng sinh viên cao đẳng sư phạm, khi chỉ ra rằng yếu tố sở thích cá nhân và môi trường rèn luyện nghiệp vụ thực tế là hai lực đẩy then chốt định hình hành vi rèn nghề. Đồng thời, nhận định này củng cố phát hiện của tác giả Nguyễn Xuân Long trong công trình năm 2013, khẳng định mặt nhận thức luôn đi trước và đạt điểm số cao hơn khía cạnh cảm xúc và hành vi trong cấu trúc hứng thú học tập.

Để minh họa trực quan các phát hiện trên, toàn bộ kết quả có thể được thể hiện qua biểu đồ cột ghép so sánh điểm trung bình giữa 3 thành tố Nhận thức - Thái độ - Hành vi theo từng khoa đào tạo, kết hợp với bảng ma trận tương quan giữa 8 biến số ảnh hưởng và biểu đồ tròn biểu diễn cơ cấu phân bổ 400 khách thể nghiên cứu. Các phát hiện khẳng định rằng để nâng cao hứng thú bền vững, việc tác động đơn thuần vào nhận thức là chưa đủ, mà nhà trường cần đặc biệt chú trọng nâng cao năng lực sư phạm của đội ngũ 50 giảng viên trực tiếp giảng dạy, bởi phẩm chất và sự truyền cảm hứng của giảng viên là nhân tố ngoại cảnh có hệ số tương quan mạnh mẽ nhất tới tinh thần học tập của sinh viên.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực tiễn tại Trường Đại học Hùng Vương, 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao được đề xuất nhằm củng cố và nâng cao hứng thú nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm:

  1. Đổi mới toàn diện chương trình và phương pháp rèn luyện nghiệp vụ sư phạm: Tăng tỷ trọng thời lượng thực hành lên tối thiểu 35% tổng số tiết học chuyên ngành; đưa nội dung rèn nghề thường xuyên vào giảng dạy ngay từ học kỳ 2 của năm học thứ nhất thay vì tập trung vào năm học thứ tư. Ban Chủ nhiệm 3 khoa chuyên môn phối hợp cùng Đoàn Thanh niên tổ chức định kỳ các hội thi nghiệp vụ sư phạm cấp khoa mỗi năm 2 lần, đặt mục tiêu thu hút 100% sinh viên tham gia rèn luyện kỹ năng viết bảng, thuyết trình và xử lý tình huống sư phạm.

  2. Chuẩn hóa và hiện đại hóa năng lực giảng dạy của đội ngũ giảng viên: Phòng Đào tạo phối hợp với các Bộ môn tổ chức các đợt tập huấn phương pháp dạy học tích cực và ứng dụng công nghệ thông tin cho 50 giảng viên của 3 khoa, thực hiện định kỳ 2 đợt mỗi năm học. Phấn đấu đạt mục tiêu 100% giảng viên chuyển đổi phương pháp giảng dạy từ truyền thụ một chiều sang tương tác giải quyết vấn đề, nâng chỉ số hài lòng của người học đối với các giờ học chuyên ngành lên trên 90% trong giai đoạn 2019-2021.

  3. Xây dựng mạng lưới cơ sở thực tập sư phạm vệ tinh và đẩy mạnh nghiên cứu khoa học: Nhà trường tiến hành ký kết thỏa thuận hợp tác đào tạo thực hành với ít nhất 20 trường mầm non, tiểu học và trung học cơ sở chất lượng cao trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Đồng thời, Phòng Khoa học Công nghệ cần thành lập quỹ hỗ trợ đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm trẻ, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học hằng năm từ dưới 15% lên mức tối thiểu 40% vào năm 2020.

  4. Nâng cấp cơ sở vật chất và tăng cường công tác tư vấn tâm lý nghề nghiệp: Trung tâm Thông tin Thư viện đầu tư bổ sung ít nhất 500 đầu sách chuyên khảo và giáo trình sư phạm mới mỗi năm, nâng cấp trang thiết bị phòng thực hành bộ môn đạt chuẩn hiện đại. Trung tâm Hỗ trợ sinh viên định kỳ tổ chức các diễn đàn tọa đàm hướng nghiệp với các nhà tuyển dụng thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo mỗi học kỳ 1 lần, giúp 100% sinh viên nắm bắt thông tin việc làm minh bạch và củng cố vững chắc niềm tin gắn bó với nghề.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và thực tiễn sâu sắc, phù hợp cho 4 nhóm đối tượng sau:

  1. Ban Giám hiệu và các nhà quản trị giáo dục đại học: Cung cấp cơ sở khoa học để hoạch định chiến lược tuyển sinh, phân bổ ngân sách đào tạo cho 35 ngành đại học và xây dựng chuẩn đầu ra phù hợp với nhu cầu sử dụng lao động của địa phương.

  2. Giảng viên các trường đại học và cao đẳng sư phạm: Tài liệu tham khảo hữu ích để cải tiến thiết kế bài giảng, tối ưu hóa các phương pháp đánh giá sinh viên và điều chỉnh nội dung rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho 3 khoa chuyên ngành trọng điểm.

  3. Học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Tâm lý học, Giáo dục học: Sử dụng bộ công cụ đo lường thực nghiệm gồm 8 tiểu thang đo với hệ số tin cậy Cronbach's Alpha đạt 0,88 cùng nguồn dữ liệu chuẩn mực từ 400 mẫu sinh viên để phục vụ các đề tài nghiên cứu so sánh chuyên sâu.

  4. Cán bộ tư vấn hướng nghiệp tại các trường trung học phổ thông: Khai thác mô hình phân tích động cơ chọn nghề để định hướng phân luồng học sinh lớp 12, giúp người học nhận thức rõ năng lực bản thân trước khi đăng ký xét tuyển vào các ngành sư phạm.

Câu hỏi thường gặp

  1. Hứng thú nghề nghiệp của sinh viên sư phạm được cấu thành từ những yếu tố nào? Hứng thú nghề nghiệp được tạo thành từ 3 thành tố tương tác mật thiết: nhận thức về ý nghĩa nghề nghiệp, thái độ cảm xúc tích cực với hoạt động dạy học, và hành vi thực tiễn trong học tập, rèn nghề. Thang đo của luận văn chứng minh cấu trúc này có độ tin cậy tổng thể cao với hệ số Cronbach's Alpha đạt 0,88 qua khảo sát trên 400 sinh viên.

  2. Yếu tố nào ảnh hưởng mạnh nhất đến hứng thú của sinh viên sư phạm Trường Đại học Hùng Vương? Kết quả kiểm định chỉ ra rằng định hướng giá trị nghề nghiệp của bản thân sinh viên và phẩm chất năng lực của đội ngũ giảng viên là 2 yếu tố tác động mạnh nhất với cùng hệ số Cronbach's Alpha đạt 0,80, vượt trội hơn so với các yếu tố như bầu không khí lớp học đạt mức 0,62 hay điều kiện cơ sở vật chất đạt 0,77.

  3. Quy mô và phương pháp chọn mẫu của đề tài có đảm bảo tính đại diện không? Mẫu nghiên cứu gồm 400 sinh viên được phân tầng ngẫu nhiên theo 3 khoa đào tạo lớn (mỗi khoa chiếm từ 33,0% đến 34,0%) và 4 khối năm học (từ 21,7% đến 26,75%), kết hợp phỏng vấn sâu 10 sinh viên và khảo sát 50 giảng viên, bảo đảm tính đại diện cao cho toàn thể khối ngành sư phạm của nhà trường.

  4. Vì sao sinh viên có điểm hứng thú ở mặt hành vi thấp hơn mặt nhận thức? Phần lớn sinh viên đều nhận thức rất tốt tầm quan trọng của việc rèn luyện nghiệp vụ, nhưng còn thiếu tính tự giác và thiếu sân chơi thực hành thường xuyên. Hoạt động rèn nghề hiện nay chủ yếu diễn ra khi có yêu cầu kiểm tra, khiến chỉ số hành vi thực tế chưa tương xứng với mức độ nhận thức lý thuyết.

  5. Luận văn đã sử dụng công cụ thống kê nào để xử lý số liệu? Tác giả sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 21 để thực hiện kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha, phân tích thống kê mô tả điểm trung bình trên thang đo khoảng cách 0,75 điểm, cùng các kiểm định so sánh ANOVA và Independent Samples T-test nhằm xác định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về giới tính và khóa học.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về hứng thú nghề nghiệp của sinh viên sư phạm, vận dụng thành công mô hình cấu trúc 3 thành tố Nhận thức - Thái độ - Hành vi.
  • Khảo sát thực chứng trên 400 sinh viên và 50 giảng viên tại Trường Đại học Hùng Vương khẳng định mức độ nhận thức nghề đạt điểm cao nhất, trong khi hành vi thực tiễn cần được tăng cường thúc đẩy.
  • Đề tài nhận diện rõ hệ thống 8 yếu tố tác động chủ quan và khách quan, khẳng định vai trò quyết định của định hướng giá trị cá nhân và chất lượng giảng dạy của giảng viên (Alpha = 0,80).
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ được đề xuất với lộ trình thực hiện cụ thể trong giai đoạn 2019-2021, tập trung đổi mới phương pháp rèn nghề và mở rộng mạng lưới cơ sở thực tập vệ tinh.
  • Kết quả nghiên cứu đóng góp nguồn ngữ liệu thực nghiệm chuẩn xác cho ngành Tâm lý học giáo dục, mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo về mô hình can thiệp tâm lý học đường tại khu vực trung du phía Bắc. Quý độc giả, nhà quản lý và các bạn sinh viên có thể ứng dụng trực tiếp các giải pháp của luận văn để nâng cao hiệu quả đào tạo giáo viên trong kỷ nguyên mới.