Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong hệ thống giáo dục và đào tạo khối ngành chăm sóc sức khỏe tại Việt Nam, ngành Dược giữ vị trí trọng yếu đối với công tác bảo vệ và nâng cao sức khỏe cộng đồng. Theo số liệu thống kê cuối năm 2011 của Cục Quản lý Dược Việt Nam, tỷ lệ dược sĩ của cả nước chỉ đạt khoảng 1,19 dược sĩ/10.000 dân với 10.160 dược sĩ làm việc trong các cơ sở sản xuất kinh doanh, bệnh viện và cơ quan quản lý nhà nước; ước tính giai đoạn 2011–2020 ngành Dược cần bổ sung khoảng 18.000 nhân lực. Sự gia tăng nhanh chóng về nhu cầu xã hội dẫn đến việc mở rộng quy mô đào tạo Dược sĩ trình độ đại học tại nhiều trường công lập và ngoài công lập. Tuy nhiên, sự gia tăng số lượng cử nhân tốt nghiệp đặt ra áp lực cạnh tranh lớn trên thị trường lao động.
Thực tế cho thấy nhiều sinh viên lựa chọn nghề nghiệp dựa trên các đặc điểm bề nổi của xã hội, chịu sự chi phối từ gia đình, bạn bè hoặc chưa tự đánh giá đúng năng lực, sở thích của bản thân. Điều này dẫn đến tình trạng định hướng sai lệch, làm việc trái ngành, nhảy việc liên tục hoặc gia tăng tỷ lệ thất nghiệp ở lao động trình độ cao. Trường Đại học Nguyễn Tất Thành được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép đào tạo Dược sĩ đại học hệ chính quy từ năm 2013 (theo Quyết định số 1887/QĐ-BGDĐT ngày 29/05/2013). Khóa 13DDS là khóa đại học chính quy đầu tiên của trường, nhập học tháng 9/2013 và dự kiến tốt nghiệp vào tháng 12/2018. Việc khảo sát định hướng nghề nghiệp của sinh viên khóa 13DDS đóng vai trò cấp thiết nhằm giúp nhà trường và khoa đánh giá hiệu quả của các chương trình hướng nghiệp, xác định xu hướng việc làm của người học, từ đó điều chỉnh nội dung đào tạo đáp ứng sát thực tế tuyển dụng.
Khóa luận xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Xây dựng bảng câu hỏi khảo sát định hướng nghề nghiệp của sinh viên khóa 13DDS sau khi ra trường;
- Đánh giá định hướng việc làm của sinh viên khóa 13DDS sau khi ra trường.
Nhiệm vụ và câu hỏi nghiên cứu tập trung làm rõ: Các buổi sinh hoạt hướng nghiệp của khoa và trường đã mang lại kết quả như thế nào; xu hướng định hướng nghề nghiệp của sinh viên khóa 13DDS diễn ra ra sao; các yếu tố chủ quan và khách quan nào tác động trực tiếp đến quyết định lựa chọn công việc và nơi làm việc của sinh viên sau khi tốt nghiệp.
Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu được xác định như sau:
- Đối tượng nghiên cứu: Định hướng nghề nghiệp của sinh viên hệ Đại học chính quy khóa 2013 (13DDS) tại Khoa Dược – Trường Đại học Nguyễn Tất Thành.
- Khách thể nghiên cứu: Nghiên cứu định tính tiếp cận các nhà quản lý, nhân viên công ty Dược, chủ nhà thuốc, nhân viên bán thuốc, nhân viên bệnh viện, phòng khám, cựu sinh viên và sinh viên khóa 13DDS; nghiên cứu định lượng khảo sát toàn bộ sinh viên khóa 13DDS đang theo học tại trường.
- Phạm vi không gian: Thực hiện kết hợp tại các cơ sở đào tạo của Khoa Dược (Trường Đại học Nguyễn Tất Thành), nhóm cộng đồng trực tuyến của khóa 13DDS trên mạng xã hội Facebook, cùng các công ty Dược và nhà thuốc trên địa bàn khảo sát định tính.
- Phạm vi thời gian: Thu thập và xử lý dữ liệu từ ngày 01/07/2018 đến ngày 30/09/2018 (thời gian phát và thu phiếu khảo sát chính thức từ ngày 16/09/2018 đến 16 giờ 00 ngày 20/09/2018).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên các khái niệm chuyên ngành và văn bản pháp quy liên quan đến nghề nghiệp và giáo dục hướng nghiệp:
- Khái niệm nghề nghiệp và việc làm: Tác giả phân tích nghề nghiệp dưới nhiều lăng kính học thuật gồm Triết học Mác-Lênin (lao động là tiền đề làm xuất hiện nghề nghiệp), Kinh tế học, Giáo dục học, Xã hội học (khái niệm thiên chức của Max Weber, 1920), Tâm lý học (quan niệm của E. Klimov, 1995; Minh Tân, Thanh Nghi, Xuân Lãm; Phạm Tất Dong). Khái niệm việc làm được chuẩn hóa theo Điều 13 Bộ luật Lao động Việt Nam và lý thuyết của C. Mác.
- Phân loại nghề nghiệp: Khóa luận viện dẫn hệ thống phân loại của Đặng Danh Ánh (nghề không chuyên môn, nửa chuyên môn hóa, chuyên môn hóa); phân loại của Phạm Tất Dong, Nguyễn Thế Trường, Trần Minh Thu, Nguyễn Dục Quang (theo lĩnh vực lao động, theo đào tạo, theo yêu cầu của nghề); và Danh mục Nghề nghiệp Việt Nam ban hành theo Quyết định số 1019/QĐ-TCTK ngày 12/11/2008 của Tổng cục Thống kê (soạn thảo theo chuẩn quốc tế ISCO-2008).
- Đặc thù việc làm ngành Dược: Hệ thống hóa 5 chuyên ngành lớn trong đào tạo Dược gồm: Dược lâm sàng, Dược liệu, Sản xuất và thiết kế thuốc, Kiểm tra chất lượng thuốc, Quản lý và cung ứng thuốc. Các vị trí việc làm tương ứng gồm: Trình dược viên, nhân viên tư vấn, bán thuốc, đấu thầu, đăng ký thuốc, Marketing dược phẩm, kiểm nghiệm viên, đảm bảo chất lượng (QA), kiểm soát chất lượng (QC), giảng viên tại các cơ sở đào tạo y dược, viện nghiên cứu và bệnh viện.
- Lý thuyết định hướng nghề nghiệp: Căn cứ Điều 3 Nghị định 75/2006/NĐ-CP; mô hình quy trình định hướng nghề nghiệp 3 bước ("Bạn là ai?", "Bạn đang đi về đâu?", "Làm sao để đến được nơi bạn muốn đến?"); các lý thuyết hướng nghiệp quốc tế của Frank Parson (1908, 1909 với cuốn Choosing a Vocation), John Lewis Holland (thuyết nhân cách và môi trường nghề nghiệp, thập niên 1940), Richard S. Sharf (1995); các công trình nghiên cứu trong nước của Phạm Tất Dong, Nguyễn Văn Hộ, Đặng Danh Ánh, Trần Thị Minh Đức (1994–1995), Nguyễn Hữu Dũng (2003–2004), Hà Thị Ngọc Thịnh (2013), Nguyễn Thị Minh Phương (2009), Trần Thị Dương Liễu (2014), Huỳnh Trường Huy và La Nguyễn Thùy Dung (2011), Võ Tấn Đạt (2016).
Phương pháp nghiên cứu được triển khai đồng bộ qua ba nhóm:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Tổng hợp, phân tích, đối chiếu các tài liệu chuyên môn, văn bản pháp luật và các công trình khoa học trong và ngoài nước về thị trường lao động và định hướng nghề nghiệp.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn trực tiếp nhà quản lý, nhân viên cơ sở dược phẩm, cựu sinh viên và sinh viên khóa 13DDS nhằm thu thập thông tin định tính và hoàn thiện nội dung bảng hỏi.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Sử dụng bảng hỏi cấu trúc gồm 26 câu hỏi (7 câu nhân khẩu học, 18 câu nội dung khảo sát 4 phương diện chính, 1 câu kiểm tra tính hợp lệ), triển khai qua hai kênh: trực tuyến trên Google Drive chia sẻ qua Facebook và phát phiếu giấy trực tiếp.
- Phương pháp thống kê toán học:
- Kiểm tra tính tối ưu của quy mô mẫu theo công thức Slovin (1960):
$$n = \frac{N}{1 + N \cdot e^2}$$
(với $N$ là tổng thể sinh viên khóa 13DDS, sai số $e = 0,05$ ở độ tin cậy 95%).
- Xử lý dữ liệu thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, bảng chéo) bằng phần mềm Microsoft Excel 2013 và IBM SPSS Statistics phiên bản 22.0.
Nội dung chính theo từng chương
Đặt vấn đề và Tổng quan tài liệu
Nội dung phần này tập trung làm rõ tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh thị trường lao động Việt Nam quý 1 và quý 2 năm 2018 có tỷ lệ thất nghiệp ở nhóm lao động có trình độ đại học trở lên là 2,47% (tương đương 126,9 nghìn người). Tác giả khái quát quá trình hình thành và phát triển của Khoa Dược – Trường Đại học Nguyễn Tất Thành từ khi thành lập theo Quyết định số 232/2008/QĐ-PHC (đào tạo trung cấp), nâng cấp lên cao đẳng theo Quyết định số 3381/QĐ-BGDĐT năm 2011, và mở mã ngành đại học chính quy năm 2013. Cơ sở vật chất của khoa phục vụ đào tạo gồm 26 phòng thí nghiệm chuyên ngành (6 PTN Hóa học, 6 PTN Sinh học và Xét nghiệm, 4 PTN Dược liệu, 4 PTN Sản xuất thuốc, 2 PTN Sử dụng thuốc, 1 phòng thực hành Đảm bảo chất lượng thuốc, 1 phòng Quản lý Dược, 1 phòng Nghiên cứu khoa học, 1 phòng Tin học ứng dụng). Khóa 13DDS được tuyển sinh vào tháng 9/2013 với hai chuyên ngành đào tạo: Quản lý và cung ứng thuốc, Sản xuất và phát triển thuốc.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Tác giả trình bày chi tiết quy trình chọn mẫu thuận tiện phi xác suất kết hợp giữa khảo sát qua mạng xã hội và phát phiếu giấy trực tiếp. Tổng số phiếu thu về là 338 phiếu (253 phiếu online, 85 phiếu giấy). Sau quá trình sàng lọc, kiểm tra câu hỏi kiểm tra tính hợp lệ và độ đầy đủ thông tin, có 26 phiếu bị loại, thu được 312 phiếu hợp lệ đưa vào phân tích (tỷ lệ hồi đáp hợp lệ đạt 92,31%). Cỡ mẫu 312 sinh viên đảm bảo tính đại diện cho tổng thể khóa 13DDS theo công thức Slovin, đồng thời đáp ứng quy mô phân bố cho cả 2 chuyên ngành đào tạo (255 sinh viên Quản lý và cung ứng thuốc, 57 sinh viên Sản xuất và phát triển thuốc).
Chương 3: Kết quả và bàn luận
Chương này phản ánh toàn bộ các chỉ số thống kê thực nghiệm thu được từ 312 sinh viên khóa 13DDS:
1. Đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu:
- Giới tính: 101 sinh viên nam (32,37%) và 211 sinh viên nữ (67,63%).
- Độ tuổi: Độ tuổi 23 (sinh năm 1995) chiếm tỷ lệ cao nhất với 81,41% (254 sinh viên); tiếp theo là tuổi 24 (sinh năm 1994) chiếm 13,14% (41 sinh viên); tuổi 25 (sinh năm 1993) chiếm 3,21% (10 sinh viên); các độ tuổi khác từ 26 đến 30 tuổi (sinh từ năm 1988 đến 1992) chiếm tỷ lệ nhỏ từ 0,32% đến 0,96%.
| Năm sinh |
Độ tuổi tương ứng |
Số lượng sinh viên |
Tỷ lệ (%) |
| 1988 |
30 |
1 |
0,32 |
| 1990 |
28 |
2 |
0,64 |
| 1991 |
27 |
1 |
0,32 |
| 1992 |
26 |
3 |
0,96 |
| 1993 |
25 |
10 |
3,21 |
| 1994 |
24 |
41 |
13,14 |
| 1995 |
23 |
254 |
81,41 |
| Tổng cộng |
- |
312 |
100,00 |
- Quê quán: Sinh viên có nguồn gốc địa lý đa dạng từ nhiều tỉnh thành trên cả nước, trong đó TP. Hồ Chí Minh chiếm tỷ lệ lớn nhất với 76 sinh viên (24,36%), kế tiếp là Lâm Đồng (22 sinh viên, 7,05%), Long An (16 sinh viên, 5,13%), Tiền Giang (15 sinh viên, 4,81%), Tây Ninh (14 sinh viên, 4,49%), Bến Tre (13 sinh viên, 4,17%), Đồng Nai (12 sinh viên, 3,85%), Bình Định và Vĩnh Long (mỗi tỉnh 10 sinh viên, 3,21%). Các tỉnh còn lại chiếm từ 0,32% đến 2,88%.
2. Định hướng tương lai của sinh viên ngay sau khi tốt nghiệp:
Kết quả thống kê cho thấy xu hướng ưu tiên gia nhập thị trường lao động của sinh viên khóa 13DDS:
| Định hướng sau tốt nghiệp |
Số lượng sinh viên |
Tỷ lệ (%) |
| Đi làm ngay |
183 |
58,65 |
| Vừa học vừa làm |
114 |
36,54 |
| Học tiếp (Cao học / Văn bằng 2) |
15 |
4,81 |
| Tổng cộng |
312 |
100,00 |
Trong nhóm sinh viên có dự định tiếp tục học tập (bao gồm cả nhóm học tiếp và vừa học vừa làm, tổng số 129 lượt):
- Về địa điểm học: 106 lượt chọn học trong nước (82,17%), 23 lượt có nguyện vọng du học nước ngoài (17,83%).
- Về bậc học/chương trình: 82 sinh viên mong muốn học lên Cao học hoặc Chuyên khoa I (62,02%), 49 sinh viên có nguyện vọng học thêm Văn bằng 2 ở lĩnh vực khác (37,98%).
3. Các nội dung định hướng chuyên sâu khác được phân tích trong chương:
- Mối liên hệ giữa chuyên ngành theo học với loại hình công ty và công việc mong muốn;
- Mối tương quan giữa kết quả học tập (tính theo thang điểm 4) và địa điểm làm việc mong muốn;
- Các yếu tố tác động đến việc lựa chọn công việc và nơi làm việc;
- Mức thu nhập kỳ vọng của sinh viên khi ra trường;
- Đánh giá của người học về chương trình đào tạo của nhà trường và mức độ cần thiết của các môn kỹ năng bổ trợ (TOEIC, Tin học A, Kỹ năng giao tiếp, Kỹ năng bán hàng, Quản lý thời gian, Giải quyết vấn đề, Soạn thảo văn bản, Tư duy hiệu quả và sáng tạo);
- Nhận thức của sinh viên về cơ hội việc làm ngành Dược và kế hoạch hành động tìm kiếm việc làm của bản thân.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
- Thực trạng định hướng nghề nghiệp: Đa số sinh viên khóa 13DDS có định hướng thực tế và chủ động: 58,65% quyết định đi làm ngay sau khi tốt nghiệp và 36,54% lựa chọn phương án vừa học vừa làm để tích lũy kinh nghiệm thực tiễn kết hợp nâng cao trình độ. Tỷ lệ sinh viên chỉ tập trung học tiếp mà không đi làm chiếm tỷ lệ thấp (4,81%).
- Nhu cầu nâng cao trình độ: Đối với những sinh viên có định hướng học lên cao, phần lớn ưu tiên học tập trong nước (82,17%) và theo đuổi các chương trình sau đại học chuyên môn Dược như Cao học hoặc Chuyên khoa I (62,02%), cho thấy nhận thức rõ ràng về yêu cầu nâng cao năng lực chuyên môn sâu trong ngành y dược.
- Ý thức về năng lực và kỹ năng: Sinh viên có nhận thức đúng đắn về giá trị nghề nghiệp, nhận diện được sự cần thiết của các kỹ năng thực hành nghề nghiệp, ngoại ngữ và tin học nhằm đáp ứng tiêu chuẩn tuyển dụng trong bối cảnh thị trường cạnh tranh.
Đề xuất và giải pháp của tác giả
- Đối với Nhà trường và Khoa Dược: Cần tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng các buổi sinh hoạt hướng nghiệp chuyên ngành; đổi mới nội dung ngày hội việc làm hàng năm nhằm kết nối sâu rộng với các doanh nghiệp sản xuất, hệ thống bệnh viện, công ty phân phối và chuỗi nhà thuốc; tăng cường đào tạo thực hành và rèn luyện các kỹ năng mềm bổ trợ (giao tiếp, bán hàng, soạn thảo văn bản, quản lý thời gian).
- Đối với sinh viên: Cần chủ động lập kế hoạch nghề nghiệp từ sớm, tự đánh giá đúng năng lực cá nhân, tích cực trau dồi chuyên môn, ngoại ngữ và kỹ năng ứng xử nghề nghiệp để gia tăng cơ hội việc làm.
Đóng góp của đề tài
Đây là công trình nghiên cứu khảo sát thực nghiệm đầu tiên về định hướng nghề nghiệp được thực hiện chuyên biệt trên đối tượng sinh viên Dược sĩ đại học khóa 1 (13DDS) của Trường Đại học Nguyễn Tất Thành. Khóa luận cung cấp bộ dữ liệu thực tế về đặc điểm nhân khẩu, xu hướng lựa chọn công việc, nhu cầu học tập nâng cao và các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định nghề nghiệp của sinh viên trước thời điểm tốt nghiệp năm 2018.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện phi xác suất trên một khóa đào tạo duy nhất (13DDS) tại Khoa Dược – Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, do đó tính khái quát hóa cho toàn bộ sinh viên Dược trên cả nước còn có những giới hạn nhất định. Thời gian khảo sát tập trung trong thời lượng ngắn (tháng 9/2018) trước thời điểm tốt nghiệp chính thức.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tác giả đề xuất mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các khóa sinh viên Dược sĩ đại học tiếp theo của trường để theo dõi sự chuyển biến xu hướng nghề nghiệp qua các năm; thực hiện các nghiên cứu theo dõi dọc (longitudinal study) khảo sát tình trạng việc làm thực tế của cựu sinh viên sau khi tốt nghiệp từ 6 tháng đến 1 năm; mở rộng so sánh định hướng nghề nghiệp giữa sinh viên ngành Dược tại các cơ sở đào tạo công lập và ngoài công lập.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng sau:
- Ban Giám hiệu và Ban Chủ nhiệm Khoa Dược: Sử dụng số liệu thống kê để nắm bắt nguyện vọng, nhu cầu việc làm của người học, từ đó điều chỉnh chuẩn đầu ra, hoàn thiện khung chương trình đào tạo và thiết kế các chuyên đề hướng nghiệp sát với thực tế tuyển dụng.
- Giảng viên và cán bộ cố vấn học tập: Tham khảo quy trình xây dựng công cụ khảo sát định hướng nghề nghiệp gồm 2 giai đoạn (phỏng vấn sâu kết hợp bảng hỏi trực tuyến/trực tiếp) để áp dụng cho công tác tư vấn học tập và hướng nghiệp sinh viên.
- Sinh viên ngành Dược và các ngành sức khỏe: Giúp sinh viên các khóa sau tham khảo mô hình đánh giá bản thân, nhận thức rõ các yêu cầu về kỹ năng và xu hướng thị trường lao động để chủ động xây dựng kế hoạch nghề nghiệp cá nhân.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận nghiên cứu trên đối tượng sinh viên nào và quy mô mẫu hợp lệ là bao nhiêu?
Khóa luận nghiên cứu trên sinh viên hệ Đại học chính quy khóa đầu tiên (khóa 2013 - 13DDS) tại Khoa Dược, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành. Quy mô mẫu điều tra thu về 338 phiếu; sau khi sàng lọc và loại bỏ các phiếu không hợp lệ, mẫu phân tích chính thức gồm 312 sinh viên (đạt tỷ lệ phản hồi hợp lệ 92,31%).
2. Công thức toán học nào được tác giả sử dụng để kiểm tra tính đại diện của mẫu khảo sát?
Tác giả sử dụng công thức chọn mẫu của Slovin (1960):
$$n = \frac{N}{1 + N \cdot e^2}$$
với mức ý nghĩa 95% (sai số chọn mẫu mong muốn $e = 0,05$) để kiểm tra quy mô mẫu tối ưu cho tổng thể sinh viên khóa 13DDS và từng chuyên ngành đào tạo.
3. Tỷ lệ sinh viên lựa chọn các hướng đi sau khi tốt nghiệp được ghi nhận như thế nào?
Trong tổng số 312 sinh viên khảo sát:
- 58,65% sinh viên (183 người) chọn đi làm ngay;
- 36,54% sinh viên (114 người) chọn vừa học vừa làm;
- 4,81% sinh viên (15 người) chọn tiếp tục học tập (cao học hoặc văn bằng 2).
4. Trong số các sinh viên có nguyện vọng học tiếp, tỷ lệ lựa chọn chương trình và địa điểm học ra sao?
Trong nhóm có nguyện vọng học tiếp (129 lượt): 82,17% chọn học trong nước và 17,83% mong muốn du học nước ngoài; 62,02% (82 sinh viên) định hướng học lên Cao học hoặc Chuyên khoa I ngành Dược, và 37,98% (49 sinh viên) có nguyện vọng học thêm Văn bằng 2 ở ngành khác.
5. Cơ cấu sinh viên khảo sát phân bố theo chuyên ngành đào tạo và giới tính như thế nào?
Về chuyên ngành đào tạo: có 255 sinh viên thuộc chuyên ngành Quản lý và cung ứng thuốc (chiếm 81,73%) và 57 sinh viên thuộc chuyên ngành Sản xuất và phát triển thuốc (chiếm 18,27%). Về giới tính: mẫu gồm 101 nam (32,37%) và 211 nữ (67,63%).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Huỳnh Xuân Hiếu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về định hướng nghề nghiệp và phản ánh bức tranh thực tiễn về xu hướng việc làm của sinh viên khóa 13DDS – khóa Dược sĩ đại học đầu tiên tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành. Thông qua phương pháp khảo sát định lượng trên 312 sinh viên kết hợp phỏng vấn sâu, nghiên cứu xác định đa số người học có định hướng đi làm ngay hoặc vừa học vừa làm, đồng thời có nhận thức rõ ràng về việc rèn luyện kỹ năng chuyên môn đáp ứng tiêu chuẩn tuyển dụng. Các phát hiện và số liệu trong đề tài là căn cứ khoa học thực tiễn giúp nhà trường hoàn thiện chương trình đào tạo và nâng cao chất lượng công tác hướng nghiệp cho sinh viên ngành Dược.