Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HỨNG THÚ NGHỀ NGHIỆP CỦA HỌC VIÊN TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ 1. Tổng quan nghiên cứu về hứng thú nghề nghiệp 1. Tổng quan nghiên cứu về hứng thú nghề nghiệp trên thế giới Trên thế giới đã có nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu về hứng thú, hứng thú học tập cũng như hứng thú nghề nghiệp. - Herbart (1776 – 1841), nhà tâm lí học người Đức cho rằng hứng thú là yếu tố quyết định kết quả học tập của người học.
- Ovide Decroly (1871 – 1932), nhà tâm lí học người Bỉ xây dựng học thuyết về trung tâm hứng thú. Ông kết luận khả năng học tập của trẻ phụ thuộc nhiều vào hứng thú.Strong là nhà tâm lí học người Mỹ nhận định sự phát triển của hứng thú thường gắn liền với sự phát triển lứa tuổi.Clapade nghiên cứu tâm lí trẻ em và thực nghiệm sư phạm. Ông nhấn mạnh đến tầm quan trọng của hứng thú trong hoạt động của con người.Ackhadop nhận định tri thức học sinh có mối tương quan với hứng thú học tập.Ivanôv cho rằng: Giáo dục phát triển hứng thú học tập cho học sinh phải được coi là nhiệm vụ quan trọng của quá trình dạy học. Theo tác giả, hoạt động dạy học không chỉ có nhiệm vụ trang bị cho học sinh những tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo, mà còn có nhiệm vụ giáo dục phát triển hứng thú cho học sinh trong quá trình tiếp thu tri thức.
Luan van 8 - John Dewey (1859 – 1952), nhà Tâm lí – Giáo dục học người Mỹ nhận định rằng hứng thú thực sự xuất hiện khi cái tôi đồng nhất hóa ý tưởng với một ý tưởng hoặc một vật cụ thể.Sukina nghiên cứu hứng thú nhận thức trong khoa học giáo dục, nêu lên nguồn gốc cơ bản của hứng thú nhận thức là nội dung tài liệu và hoạt động học của học sinh.Marcova nghiên cứu về vai trò dạy học nêu vấn đề với hứng thú học tập của học sinh: Dạy học nêu vấn đề là một trong những biện pháp quan trọng góp phần nâng cao hứng thú học tập cho học sinh trong quá trình học tập.Piaget (1896-1983) cho rằng nhà trường kiểu mới đòi hỏi phải hoạt động thật sự, phải làm việc một cách chủ động dựa trên nhu cầu và hứng thú cá nhân.Holland (1959 - 1985), nhà tâm lí học nổi tiếng người Mỹ qua nghiên cứu lí thuyết lựa chọn nghề nghiệp. Ông cho rằng, bất kì ai cũng thuộc vào sáu nhóm sở thích nghề nghiệp đặc trưng như: nhóm thực tế, nhóm nghiên cứu, nhóm nghệ thuật, nhóm xã hội, nhóm quản lí, nhóm nghiệp vụ. Ngày nay, những người làm công tác giáo dục thường sử dụng lí thuyết nghề nghiệp của ông để giúp học viên tìm hiểu hứng thú nghề nghiệp của mình. - Trong những năm 1970 – 1990 nhiều nhà nghiên cứu của Mỹ như: G.Roee cho rằng điều kiện để con người thỏa mãn nghề nghiệp là: tính độc lập, mối quan hệ tốt với cộng sự, sự công bằng, tiền lương.
còn có một điều kiện nữa đó là hứng thú với công việc. Tóm lại, các nhà nghiên cứu đều công nhận sự ảnh hưởng của hứng thú đối với quá trình học tập và học nghề. Hứng thú có vai trò quan trọng, đặc biệt Luan van 9 trong học nghề, tạo động lực đề các học viên hoàn thành được các mục tiêu đề ra. Tổng quan nghiên cứu về hứng thú nghề nghiệp ở Việt Nam Tại Việt Nam, công tác hướng nghiệp trong những năm gần đây được nhà trường và xã hội lưu tâm nhiều hơn.
Chọn đúng nghề là một trong những vấn đề được nhiều người quan tâm, nhất là các học viên trường dạy nghề, họ luôn ưu tư không biết họ có chọn đúng nghề hay không. Có rất nhiều tác giả đã tìm hiểu về hứng thú, người nghiên cứu chỉ nêu ra một số nghiên cứu từ những năm 60 trở lại đây. - Năm 1960, các tác giả Đức Minh, Phạm Cốc, Đỗ Thị Xuân trong cuốn tâm lí học giảng dạy ở Đại học Sư phạm Hà Nội đã đề cập đến những vấn đề chung về hứng thú. - Nguyễn Khắc Viện cho rằng nói đến hứng thú tức là nói đến mục tiêu, huy động sinh lực (thể chất và tâm lí) để cố gắng thực hiện.
Hứng thú gây chú ý và làm cho chủ thể cố gắng hành động” (Lương Duy Thiện, 2013). - Năm 1970, Phan Huy Thụ tìm hiểu “Hiện trạng hứng thú học tập các môn học của học sinh cấp II”. Trong đề tài này, ông tìm hiểu hứng thú học tập đối với học sinh cấp II và phân tích những nguyên nhân ảnh hưởng đến hứng thú học tập của các em. Từ đó, đề xuất các phương pháp nhằm nâng cao hứng thú học tập cho học sinh.
- Năm 1973, Phạm Tất Dong nghiên cứu “Một số đặc điểm hứng thú nghề nghiệp của học sinh và nhiệm vụ hướng nghiệp”. Kết quả nghiên cứu khẳng định sự khác biệt về hứng thú nghề nghiệp giữa nam và nữ, hứng thú nghề nghiệp không thống nhất với xu hướng phát triển nghề nghiệp của xã hội và công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông không được thực hiện nên các em học sinh chịu nhiều thiệt thòi. Luan van 10 - Năm 1977, Phan Ngọc Huỳnh tìm hiểu “Hứng thú với môn văn của học viên cấp II”. Trong đề tài, tác giả tìm hiểu về thực trạng hứng thú học môn văn của học sinh.
Cụ thể hơn tác giả tìm hiểu nguyên nhân nào tạo cho học sinh hứng thú và không hứng thú đối với môn văn. Trên cơ sở đó, đề ra các biện pháp nâng cao hứng thú học tập môn văn cho học sinh. - Năm 1980, Nguyễn Thanh Bình nghiên cứu đề tài “Bước đầu tìm hiểu nguyên nhân gây hứng thú học tập môn Tâm lí học của sinh viên Khoa Tự nhiên, Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội I”. Tác giả đi sâu vào phân tích nguyên nhân chủ quan và khách quan gây nên hứng thú học tập môn Tâm lí học của sinh viên Khoa Tự nhiên, Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội.
Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp nâng cao hứng thú học tập của sinh viên như: giáo dục động cơ học tập đúng đắn; giảng dạy gắn liền với thực tiễn; đảm bảo về giáo trình; bồi dưỡng năng lực giảng dạy cho giảng viên. - Năm 1981, Nguyễn Thị Tuyết đã tìm hiểu về hứng thú với đề tài “Bước đầu tìm hiều hứng thú học văn của học sinh lớp 10 và lớp 11 ở một số trường phổ thông cấp III Thành Phố Hồ Chí Minh”. Từ kết quả nghiên cứu của mình tác giả đề xuất một số biện pháp giúp học sinh có được hứng thú học văn từ phía giáo viên như: phải có lòng yêu nghề, không ngừng nâng cao chuyên môn, có phương pháp giảng dạy tối ưu nhất và khuyến khích học viên tích cực tham gia các hoạt động văn hóa nghệ thuật. - Năm 1981, Phùng Minh Nguyệt nguyên cứu “Bước đầu tìm hiểu thực trạng hứng thú đối với nghề sư phạm của giáo sinh Trường Cao đẳng Sư phạm Nghĩa Bình”.
Theo tác giả, hứng thú chỉ có thể được phát triển trên cơ sở con người bắt tay vào hoạt động. Vì vậy, muốn nâng cao hứng thú nghề nghiệp cho giáo sinh phải tổ chức các đợt thực tập nhằm Luan van 11 thâm nhập vào thực tiễn, thực hành công việc của mình (Phùng Minh Nguyệt, 1981). - Năm 1986, Hoàng Kim Thu nghiên cứu “Hình thành hứng thú nghề nghiệp cho học sinh qua giảng dạy môn vật lí”. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm nói lên rằng hình thức học ngoại khóa có tác động lớn đến sự hình thành hứng thú nghề nghiệp (Hoàng Kim Thu, 1986).
- Năm 1987, Nguyễn Khắc Mai nghiên cứu “Bước đầu tìm hiểu thực trạng hứng thú đối với hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên tại trường của sinh viên Khoa Tâm lí Giáo dục”. Trong đề tài, tác giả cho biết nguyên nhân gây ra hứng thú là do ý nghĩa của môn học, trình độ của sinh viên, phương pháp giảng dạy của giảng viên. - Năm 1994, Hoàng Hồng Liên có đề tài “Bước đầu nghiên cứu những con đường nâng cao hứng thú cho học viên phổ thông” tác giả kết luận: dạy học trực quan là biện pháp tốt nhất để tác động đến hứng thú của học viên. - Năm 1999, Lê Thị Thu Hằng với đề tài “Thực trạng hứng thú học tâp các môn lí luận của sinh viên trường đại học Thể dục thể thao I”.
Trong đó, phương pháp, năng lực chuyên môn của giảng viên, là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến hứng thú học tập của sinh viên”. - Năm 2002, Đặng Quốc Thành nghiên cứu “Hứng thú học môn tâm lí học quân sự của sinh viên các Trường Cao đẳng, Đại học Quân sự”. Từ kết quả nghiên cứu của mình tác giả đã đưa ra một số biện pháp nâng cao hứng thú học tập cho sinh viên như: nâng cao chuyên môn, cải tiến phương pháp dạy học, đảm bảo về cơ sở vật chất. - Năm 2004, Mai Văn Hải với đề tài nghiên cứu khoa học “Hứng thú của sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn với môn học thể chất” cho thấy sinh viên chưa thấy hết được việc học thể chất có tác dụng như thế nào trong cuộc sống.
Luan van 12 - Năm 2005, Vương Thị Thu Hằng với đề tài “Tìm hiểu hứng thú nghiên cứu khoa học của sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn”. Tác giả đưa ra nguyên nhân ảnh hưởng đến hứng thú nghiên cứu khoa học của sinh viên là do chủ quan của sinh viên. Tác giả đưa ra một số kiến nghị như sau: nhà trường quan tâm tổ chức các hoạt động ngoại khóa, hội nghị khoa học chuyên đề, câu lạc bộ sinh viên nghiên cứu khoa học, cung cấp nhiều tài liệu cho sinh viên. - Năm 2005, Phan Thị Thơm trong nghiên cứu luận văn thạc sĩ “Hứng thú học tập môn Tâm lí học đại cương của sinh viên trường Đại học Dân lập Đông Đô”.
Tác giả khẳng định: phần lớn sinh viên đã nhận thức vai trò sự cần thiết, tầm quan trọng của môn Tâm lí học đại cương đối với hoạt động học tâp và công tác sau này của họ. Tuy nhiên, sự nhận thức của sinh viên về vai trò, tác dụng của môn Tâm lí học đại cương chưa sâu sắc và chưa toàn diện. Phần lớn sinh viên có biểu hiện thích thú, chờ mong, hài lòng với việc học tập môn học này. - Năm 2007, Mai Thị Thu Hằng nghiên cứu “hứng thú nghề điều dưỡng của sinh viên Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định”.
Phần lớn sinh viên Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định có mức độ hứng thú nghề chưa cao.