CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM VÀ CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN SAU TỐT NGHIỆP 1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về việc làm và tạo việc làm cho sinh viên sau tốt nghiệp 1.1 Khái niệm về lao động và việc làm 1.1 Lao động Khái niệm về Lao động có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng suy đến cùng, lao động là hoạt động đặc thù của con người, là ranh giới để phân biệt con người với con vật. Bởi vì, khác với con vật, lao động của con người là hoạt động có mục đích, có ý thức tác động vào thế giới tự nhiên nhằm cải biến những vật thể của tự nhiên thành sản phẩm phục vụ cho nhu cầu đời sống của con người. Theo Các Mác, “Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên” [36, tr.Ăng ghen viết: Khẳng định rằng lao động là nguồn gốc của mọi của cải. Lao động đúng là như vậy, khi đi đôi với giới tự nhiên là cung cấp những vật liệu cho lao động đem biến thành của cải.
Nhưng lao động còn là một cái gì đó vô cùng lớn lao và hơn thế nữa, lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: Lao động đã sáng tạo ra bản thân loài người [38, tr. Như vậy, có thể nói lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người, trong quá trình lao động con người vận dụng sức lực tiềm tàng trong cơ thể của mình, sử dụng công cụ lao động để tác động vào đối tượng lao động nhằm biến đổi nó phù hợp với nhu cầu của mình. Nói cách khác, trong bất kỳ nền sản xuất xã hội nào, lao động bao giờ cũng là điều kiện để tồn tại và phát triển của xã hội.2 Việc làm Hiện nay, có nhiều quan niệm về việc làm. Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm “Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật”.
Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực, trường Đại học Kinh tế quốc dân cho rằng: “Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ…) để sử dụng sức lao động đó”. Điều 9, Luật Lao động Việt Nam (2012) quy định “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm. Theo đó, hoạt động được coi là việc làm khi hội đủ hai điều kiện: một là tạo ra nguồn thu nhập; hai là hoạt động đó không bị pháp luật cấm. Từ điển Luật học Việt Nam, đưa ra định nghĩa “Việc làm là hoạt động lao động hợp pháp, tương đối ổn định, tạo ra thu nhập hoặc có khả năng tạo ra thu nhập”.
Việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụ thuộc vào quy mô nền kinh tế, các yếu tố tài nguyên, vốn, công nghệ và trình độ tổ chức quản lý. Một người lao động có việc làm khi họ có sức khỏe và những kỹ năng cần thiết tham gia vào một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội. Thông qua việc làm, người lao động thực hiện quá trình lao động tạo ra sản phẩm và thu nhập cho chính mình, cho người sử dụng lao động và cho xã hội. Việc làm bền vững/việc làm thỏa đáng (Decent work): Theo Tổ chức Lao động thế giới (ILO), việc làm bền vững là tổng hòa những khát vọng của con người trong cuộc đời làm việc của họ, bao gồm các cơ hội việc làm sinh lợi và đem lại một thu nhập công bằng, an toàn nơi làm việc, đảm bảo an sinh xã hội cho các thành viên trong gia đình, triển vọng tốt hơn cho sự phát triển của cá nhân và hòa nhập xã hội, tự do cho mọi người bày tỏ mối quan tâm, tổ chức và tham gia vào các quyết định có ảnh hưởng tới cuộc sống của họ, bình đẳng trong cơ hội và đối xử đối với cả nam và nữ.
Việc làm bền vững được coi là một Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ. Đo lường Việc làm bền vững là mối quan tâm lâu dài của các thành viên ILO. Tuy nhiên, tính chất đa diện của Chương trình Việc làm bền vững bao gồm tiếp cận 123doc 11 với việc làm đầy đủ và hiệu quả với các quyền nơi làm việc, an sinh xã hội và thúc đẩy đối thoại xã hội, có nghĩa là việc đo lường rất phức tạp. Do đó, Tuyên bố của ILO về công bằng xã hội cho một tiến trình toàn cầu hóa công bằng khuyến nghị các nước thành viên có thể cân nhắc việc thành lập các chỉ số hay số liệu thống kê thích hợp, có sự hỗ trợ của ILO nếu cần thiết, để theo dõi và đánh giá tiến độ thực hiện.Theo Hội nghị ba bên của các chuyên gia tổ chức vào tháng 9/2008, Cơ quan Hội đồng đồng ý thử nghiêm một phương pháp tiếp cận toàn diện để đo lường Việc làm bền vững trong năm 2009 bằng cách kết hợp việc biên dịch định nghĩa chỉ số chi tiết và chuẩn bị hồ sơ quốc gia Việc làm bền vững được thí điểm tại một số nước.
Hội nghị quốc tế Thống kê lao động lần thứ 18 đã thông qua phương pháp này. Phối hợp với Cục thống kê, các đơn vị kỹ thuật khác và các văn phòng của ILO, Bộ phận lồng ghép chính sách đang kết hợp với văn phòng để thực hiện công việc này. Bộ phận này cũng đang thực hiện dự án “Giám sát và đánh giá tiến độ về Việc làm thỏa đáng” với sự tài trợ của Liên minh châu Âu. Trong suốt giai đoạn 2009 - 2012, dự án nhằm mục đích hướng dẫn cách xác định các chỉ số Việc làm bền vững ở cấp quốc gia (dự trên kết quả của Hội nghị ba bên các chuyên gia tổ chức vào tháng 9/2008); hỗ trợ nhập số liệu; và sử dụng dữ liệu thu thập cho phân tích chính sách tổng hợp để áp dụng vào việc hoạch định chính sách một cách phù hợp.
Theo ILO (trang website) hiện có 21 quốc gia đã và đang xây dựng bộ chỉ số Việc làm thỏa đáng. Nhưng đáng tiếc là Việt Nam không nằm trong số 21 quốc gia này. Bên cạnh đó, theo tổ chức lao động thế giới (Viết tắt là ILO) thì khái niệm thiếu việc làm được biểu hiện dưới hai dạng sau: + Thiếu việc làm vô hình: Là những người có đủ việc làm, làm đủ thời gian, thậm chí còn quá thời gian qui định nhưng thu nhập thấp do tay nghề, kỹ năng lao động thấp, điều kiện lao động không đảm bảo, tổ chức lao động kém, cho năng suất lao động thấp thường có mong muốn tìm công việc khác có mức thu nhập cao hơn. 123doc 12 + Thiếu việc làm hữu hình: Là hiện tượng người lao động làm việc với thời gian ít hơn quỹ thời gian qui định, không đủ việc làm và đang có mong muốn kiếm thêm việc làm và luôn sẵn sàng để làm việc.
+ Thất nghiệp: Người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động nhưng không có việc làm, có khả năng lao động, hay nói cách khác là sẵn sàng làm việc và đang đi tìm việc làm. Theo nguyên nhân, thất nghiệp được chia thành các loại: - Thất nghiệp theo lý thuyết cổ điển là thất nghiệp xẩy ra khi tiền lương được ấn định cao hơn mức tiền lương ở điểm cân bằng của thị trường. - Thất nghiệp chu kỳ là mức thất nghiệp tương ứng với từng giai đoạn trong chu kỳ kinh tế, do trạng thái tiền lương cứng nhắc tạo ra và sẽ mất đi trong dài hạn. - Thất nghiệp tự nhiên là mức thất nghiệp bình thường mà nền kinh tế phải chấp nhận, là dạng thất nghiệp không mất đi trong dài hạn, tồn tại ngay cả khi thị trường lao động cân bằng.
Thất nghiệp tự nhiên bao gồm: thất nghiệp tạm thời, thất nghiệp cơ cấu. - Thất nghiệp tạm thời: Phát sinh do di chuyển không ngừng của sức lao động giữa các vùng, các công việc hoặc các giai đoạn khác nhau của cuộc sống. - Thất nghiệp cơ cấu: xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cung và cầu lao động, việc làm. Sự không ăn khớp giữa số lượng và chất lượng đào tạo và cơ cấu về yêu cầu của việc làm, mất cân đối giữa cung và cầu lao động.3 Tạo việc làm Theo PGS.TS Trần Xuân Cầu (2003), giáo trình kinh tế nguồn nhân lực, nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân: “Tạo việc làm là quá trình tạo điều kiện kinh tế xã hội cần thiết để người lao động có thể kết hợp sức lao động và tư liệu sản xuất, nhằm tiến hành quá trình lao động, tạo ra hàng hoá dịch và dịch vụ theo yêu cầu thị trường” [11, tr.
“Tạo việc làm là một quá trình tạo môi trường hình thành các chỗ làm việc và sắp xếp người lao động phù hợp với chỗ làm việc để có các việc làm chất lượng, đảm bảo nhu cầu của cả người lao động và người sử dụng lao động đồng thời phải đáp ứng được mục tiêu phát triển đất nước”. 123doc 13 “Tạo việc làm cho người lao động là đưa người lao động vào việc làm để tạo ra trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tạo ra hàng hoá và dịch vụ theo yêu cầu của thị trường”. Có thể hiểu tạo việc làm là tổng hợp những hoạt động cần thiết để tạo ra những chỗ làm việc mới, giúp người lao động chưa có việc làm có được việc làm; tạo thêm việc làm cho những người lao động đang thiếu việc làm và giúp người lao động tự tạo việc làm.4 Giải quyết việc làm Giải quyết việc làm là việc tạo ra các cơ hội để người lao động có việc làm và tăng được thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội. Như vậy, giải quyết việc làm là nhằm khai thác triệt để tiềm năng của một con người, nhằm đạt được việc làm hợp lý và việc làm có hiệu quả.
Chính vì vậy, giải quyết việc làm phù hợp có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với người lao động ở chỗ tạo cơ hội cho họ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, trong đó quyền cơ bản nhất là quyền được làm việc nuôi sống bản thân và gia đình góp phần phất triển quê hương đất nước.