MỞ ĐẦU 1- Lý do chọn đề tài Tình trạng sinh viên ra trƣờng không có việc làm đã và đang là vấn đề nan giải trong nhiều năm nay. Theo thống kê, trong 3 năm, từ năm 2009 đến năm 2012, có gần 400.000 sinh viên cao đẳng và khoảng 500.000 sinh viên đại học tốt nghiệp các hệ đào tạo, trong đó đào tạo chính quy chiếm khoảng 65%. Tính đến cuối năm 2012, trong tổng số 984.000 ngƣời thất nghiệp, có 55.400 ngƣời tình độ cao đẳng (5,4%) và 111.100 ngƣời có trình độ đại học trở lên (11,3%). Theo Bản tin cập nhật thị trường lao động số 5 - quý I năm 2015, trong quí I năm 2015, cả nước có 177 nghìn người có trình độ từ đại học trở lên thất nghiệp, tăng 12.100 người so với quí IV năm 2014; số lao động thất nghiệp có trình độ cao đẳng là 100.600 người tăng 25.900 người so với quí IV năm 2014.
Mặt khác, còn khá phổ biến hiện tƣợng sinh viên không thất nghiệp nhƣng lại “thất nghề”, đó là trong số sinh viên ra trƣờng kiếm đƣợc việc làm thì có nhiều sinh viên phải làm những công việc tạm thời, không đúng chuyên ngành đào tạo. Thực trạng này tạo nên những tâm lý tiêu cực cho sinh viên, thậm chí cả những sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp cũng mang tâm lý lo lắng về việc làm của mình sau khi rời ghế giảng đƣờng. Với kiến thức đƣợc đào tạo, lực lƣợng sinh viên là nguồn nhân lực quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển đất nƣớc. Tuy nhiên, tình trạng sinh viên sau những năm học hành vất vả, tích lũy kiến thức phải chấp nhận một công việc không đúng với chuyên ngành mình đƣợc học, thậm chí có những sinh viên chẳng sử dụng một chút kiến thức nào đã đƣợc trang bị trong những năm học ở trƣờng.
Việc sinh viên học chuyên ngành này lại đi làm một chuyên ngành khác là một thực tế đang diễn ra khá phổ biến trong nền kinh tế thị trƣờng hiện nay. Tình trạng sinh viên ra trƣờng làm việc không đúng ngành nghề đƣợc đào tạo đã gây lãng phí nguồn tri thức trẻ đang là nỗi lo của toàn xã hội và một mặt làm lãng phí thời gian, công sức và vật chất của sinh viên cùng gia đình họ; mặt khác làm lãng phí nguồn lao động có tri thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa 1 z đất nƣớc. Mặt khác, với những sinh viên tìm đƣợc việc làm đúng chuyên ngành đào tạo thì việc đáp ứng yêu cầu của ngƣời sử dụng cũng đang là những thách thức không nhỏ. Thành phố Hà Nội là một trong những nơi có nhiều sinh viên sau khi ra trƣờng ở lại tìm việc làm.
Việc nghiên cứu đánh giá thực trạng vấn đề việc làm và chính sách tạo việc làm cho sinh viên sau tốt nghiệp tại Hà Nội là hết sức cần thiết và là một trong những căn cứ để đề xuất các giải pháp góp phần giải quyết vấn đề việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp, đảm bảo an sinh xã hội, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực trẻ trong xây dựng và phát triển đất nƣớc. Xuất phát từ thực tế trên, tôi chọn đề tài “Chính sách tạo việc làm cho sinh viên sau tốt nghiệp tại Hà Nội” để thực hiện luận văn thạc sĩ Quản lý kinh tế của mình. Câu hỏi nghiên cứu của đề tài là: Thành phố Hà Nội cần phải làm gì và làm nhƣ thế nào để hoàn thiện chính sách tạo việc làm cho sinh viên sau tốt nghiệp? 2 - Mục tiêu Đánh giá thực trạng việc làm, chính sách tạo việc làm cho sinh viên sau khi tốt nghiệp và đề xuất giải pháp về chính sách tạo việc làm cho sinh viên sau tốt nghiệp tại địa bàn Hà Nội. 3 - Đối tƣợng, vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Chính sách tạo việc làm cho sinh viên sau tốt nghiệp tại Hà Nội - Phạm vi nghiên cứu: Chính sách tạo việc làm cho sinh viên sau tốt nghiệp tại Hà Nội giai đoạn từ 2009 đến 2014.
4 - Bố cục của đề tài Ngoài phần lý do chọn đề tài, mục tiêu của đề tài, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu, đề tài có bố cục gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1- Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về việc làm và chính sách việc làm đối với sinh viên sau khi tốt nghiệp. Chƣơng 2 - Phƣơng pháp nghiên cứu 2 z Chƣơng 3- Thực trạng việc làm và chính sách tạo việc làm cho sinh viên sau khi tốt nghiệp trên địa bàn Thành phố Hà Nội Chƣơng 4- Một số đề xuất giải pháp về chính sách tạo việc làm cho sinh viên sau tốt nghiệp tại Hà Nội 3 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM VÀ CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN SAU TỐT NGHIỆP 1.1-TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Việc làm cho sinh viên sau khi ra trƣờng là vấn đề rất đƣợc quan tâm. Bởi lẽ, nó không chỉ liên quan đến cuộc sống của sinh viên mà còn liên quan đến quá trình phát triển của xã hội. Do đó, vào mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, giải quyết việc làm cho sinh viên có những đặc điểm khác nhau.
Chính vì thế, viêc nghiên cứu giải quyết vấn đề việc làm cho sinh viên đƣợc nhiều nhà khoa học và quản lý trong và ngoài nƣớc quan tâm. Trong phạm vi của luận văn, tôi chỉ tập trung giới thiệu một số công trình tiêu biểu liên quan đến tạo việc làm cho sinh viên ở thủ đô Hà Nội: *Các Mác (1818-1883) - nhà kinh tế học và triết học ngƣời Đức có công trình vĩ đại “Tư bản” đƣợc phát hành vào năm 1867 [5]. Sự xuất hiện của công trình này đã đƣa ông trở thành nhà khoa học kinh tế vĩ đại nhất của thế kỉ XIX. Trong tác phẩm nổi tiếng này, ông đã đƣa ra lý thuyết giá trị thặng dƣ và phân tích bản chất và những thành tố đặc biệt của hàng hóa sức lao động, một loại hàng hóa đặc biệt trong nền kinh tế thị trƣờng.
Trong quá trình nghiên cứu, Các Mác đã phát hiện ra rằng: cái giá trị tăng thêm mà các ông chủ tƣ bản có đƣợc sau khi bỏ vốn sản xuất kinh doanh chính là do lao động không công của ngƣời công nhân làm thuê tạo ra.Song để có đƣợc giá trị thặng dƣ ấy, nhà tƣ bản phải tạo ra một chỗ làm cụ thể trong chuỗi kế hoạch sản xuất kinh doanh của họ bằng cách đầu tƣ tƣ bản vào sản xuất, kinh doanh. Và hơn nữa, ngƣời lao động nếu không thể kết hợp sức lao động sống của mình với chỗ làm cụ thể do nhà tƣ bản tạo ra, thì bản thân họ cũng không thể chuyển sức lao động thành việc làm, và do đó cũng không thể tạo ra giá trị thặng dƣ. 4 z Những nghiên cứu của Mác về hàng hóa sức lao động, về sự sản xuất ra giá trị thặng dƣ, về ngày công lao động, phân công lao động… đã đƣợc chuyển tải ở tập 23 đã cung cấp những cơ sở khoa học cơ bản, trong đó có quan niệm về lao động, việc làm cho các nhà kinh tế mác xít, các nhà nghiên cứu về các nền kinh tế trên thế giới cũng nhƣ những vấn đề phát sinh trong quá trình phát triển kinh tế của các quốc gia [14]. Đồng thời, đây cũng là kim chỉ nam để Đảng và Nhà nƣớc ta xây dựng nề kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa và thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, cũng nhƣ giải quyết việc làm cho ngƣời lao động, trong đó có sinh viên sau khi tốt nghiệp.
*Nolwen Heraff - Jean Yves Martin trong cuốn “Lao động, việc làm và nguồn nhân lực ở Việt Nam sau 15 năm đổi mới” [29] đã nghiên cứu khái quát về tình hình lao động, việc làm và nguồn nhân lực Việt Nam giai đoạn 1986 – 2000. Theo đó cho thấy, bắt đầu sự nghiệp đổi mới, Việt Nam có ƣu thế lớn là nguồn nhân lực dồi dào, khả năng mở rộng việc làm trong quá trình đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trƣờng rất lớn, song do chất lƣợng nguồn nhân lực thấp, đa số là lao động chƣa qua đào tạo nghề nên khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển rất hạn chế. Điểm đáng chú ý nhất ở tác phẩm này là đã chỉ ra những hạn chế của nguồn nhân lực và ảnh hƣởng của nó đến sự phát triển kinh tế - xã hội và vấn đề giải quyết việc làm ở nƣớc ta giai đoạn 1986 - 2000. Những kết quả nghiên cứu của công trình này cung cấp cho ngƣời đọc có cái nhìn tƣơng đối khách quan, khoa học về lao động, việc làm, nguồn nhân lực của Việt Nam trong giai đoạn đầu của quá trình đổi mới.
Đó là tƣ liệu giúp cho chúng ta có cái nhìn đầy đủ hơn về lao động, việc làm, nguồn nhân lực Việt Nam trong từng giai đoạn phát triển của đất nƣớc.04 Luận cứ khoa học cho việc xây dựng chính sách giải quyết việc làm của nước ta khi chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành 5 z phần do Nguyễn Hữu Dũng làm chủ biên [35] đã nghiên cứu các nội dung: Xây dựng luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách giải quyết việc làm của Việt Nam trong điều kiện chuyển đổi cấu trúc nền kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý kinh tế; Khuyến nghị một số chính sách quan trọng nhất trong lĩnh vực việc làm; Đề xuất mô hình tổng quát và hệ thống biện pháp nhằm đảm bảo thực hiện chính sách quốc gia xúc tiến việc làm. Kết quả nghiên cứu của đề tài đã góp một số luận cứ, cơ sở khoa học cho Đảng và Nhà nƣớc ta trong việc hình thành các chủ trƣơng, chính sách về giải quyết vấn đề việc làm nói chung và việc làm cho sinh viên nói riêng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. * Cuốn “Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam” của Nguyễn Hữu Dũng và Trần Hữu Trung [37] nghiên cứu về chính sách việc làm của Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.