Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TƯ VẤN HỌC TẬP CHO SINH VIÊN TRONG ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN HỌC TẬP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế giới có khá nhiều loại hình tư vấn như: tư vấn pháp luật, tư vấn sức khỏe, tư vấn tài chính,. Riêng trong lĩnh vực giáo dục cũng có nhiều loại hình tư vấn như: tư vấn học tập, tư vấn học đường, tư vấn nghề nghiệp, tư vấn hướng nghiệp,.
Nhìn chung, các loại hình tư vấn khác nhau đều có chung mục đích là giải đáp băn khoăn, thắc mắc, cung cấp thông tin để giúp người cần tư vấn tìm ra giải pháp, biện pháp giải quyết vấn đề, nâng cao hiệu quả công việc, giúp người được tư vấn tự tin hơn trong hành động theo quyết định của mình đã lựa chọn. Ở đây tập trung đề cập tới các công trình nghiên cứu về TVHT hoặc tương tự như vậy. Năm 1964, công trình nghiên cứu của tác giả Iallberg. C về TVHT cho thấy, quá trình TVHT được thông qua CVHT, họ gặp gỡ trao đổi thông tin với sinh viên (SV) và sẽ cung cấp những thông tin trọng tâm, quan trọng trong học tập mà SV cần biết [62].
Với cùng quan điểm nêu trên, tác giả R. Robbins cho rằng, có rất nhiều yếu tố góp phần vào quá trình TVHT để đạt được kết quả tốt. Tuy nhiên, tác giả nhấn mạnh về sự cần thiết của cố vấn tâm lý trong quá trình tương tác, bởi nó có tác động đến SV và CVHT cùng nhau chia sẻ những quan điểm của riêng mình [67]. luan an 8 TVHT được các nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu và đánh giá nhiều ở bậc giáo dục ĐH.
Nghiên cứu về “Sự năng động của TVHT bậc ĐH”, năm 1975 người ta đã tiến hành khảo sát 452 GV và nhân viên làm công tác TVHT tại trường ĐH Minnesota. Trong đó khảo sát cả một số vấn đề liên quan đến trợ giúp SV. Hướng khảo sát chủ yếu là: 1) Các vấn đề về học tập, xã hội. 2) Các vấn đề về cảm xúc hoặc tâm lý.
3) Các vấn đề về học tập liên quan đến sự nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy các CVHT đã dành phần lớn thời gian cho việc cung cấp các thông tin về học tập khi SV có nhu cầu. Các CVHT đều cho rằng họ là người trợ giúp thích hợp nhất đối với SV trong các lĩnh vực học tập và hướng nghiệp [60]. Trong một nghiên cứu và khảo sát tại trường CĐ kỹ thuật và một số trường ĐH, tác giả M.
Balilah cùng các cộng sự đã đưa ra kết luận và khẳng định: “TVHT có vai trò rất quan trọng trong giáo dục ĐH”, và “CVHT gần như một xương sống của hệ thống giáo dục ĐH” nghiên cứu đã đề xuất cách tiếp cận toàn diện cho hệ thống TVHT nhằm đạt được hiệu quả cao nhất [65]. Với cuộc khảo sát 1.033 SV năm thứ nhất tại một trường ĐH, kết quả khảo sát cho thấy sự ảnh hưởng của TVHT đến chất lượng đào tạo. Cụ thể là nếu SV được TVHT có chất lượng cao thì số lượng SV bỏ học ít, và ngược lại nếu SV được TVHT có chất lượng thấp sẽ đồng nghĩa với số lượng SV bỏ học nhiều. Đây cũng được coi như một chiến lược trong sự nỗ lực giảm số lượng SV bỏ học do không được TVHT tốt ở các trường ĐH [57].
Đối với SV, trao đổi thông tin với CVHT là công việc khó, bởi CVHT không phải là người luôn túc trực các cuộc hẹn đối với mỗi SV. Để giải quyết vấn đề đó A. Ahmed có bài viết nhằm cung cấp một giải pháp tư vấn toàn diện cho SV, làm cho SV tiếp cận với CVHT thật đơn giản và thuận tiện thông qua công nghệ trực tuyến với cố vấn, đây là công cụ để giúp SV thành công hơn trong học tập bởi họ có thể truy cập, kết nối với cố vấn bất luan an 9 kỳ lúc nào và quan trọng hơn là được liên lạc trực tiếp mà không cần sự giáp mặt giữa cố vấn với SV [55].Cùng hướng nghiên cứu sử dụng hệ thống thông tin để tìm sự trợ giúp của C, P. Amador có bài viết “Tư vấn học tập qua Facebook: Xem xét trợ giúp SV [71].
Nghiên cứu TVHT cho SV qua hệ thống công nghệ thông tin, N. Mattei và các cộng sự đã có bài viết chia sẻ bài học kinh nghiệm về một công cụ hỗ trợ TVHT cho SV. Trong giai đoạn 2009 đến 2011 nhóm nghiên cứu đã khảo sát trên 500 SV bằng các câu hỏi chi tiết về những lợi thế mà SV có được trong suốt quá trình học tập. Kết quả cho thấy TVHT bằng công cụ phần mềm sẽ hỗ trợ, cải thiện mối quan hệ và sự tương tác giữa CVHT với SV rất nhiều, đặc biệt trong quá trình học tập và lập kế hoạch học tập cho cả khóa học của SV.
Song, bên cạnh đó, hình thức tư vấn trực tiếp giữa CVHT với SV cũng không thể thiếu vì hiệu quả tích cực của nó [66]. Edward “Chip” Anderson (1997) cho rằng, CVHT tư vấn cho SV nhằm giúp họ tiếp cận học một cách có hệ thống, đây là động lực quan trọng thúc đẩy quá trình học”[61] Năm 2007, theo Sindabi, A. thì CVHT là người đưa ra lời khuyên và giải đáp những câu hỏi liên quan đến học tập, tạo điều kiện để SV tiếp cận nguồn tài liệu nhằm phát triển tri thức cho người học. Martínez-argüelles và các cộng sự có công trình nghiên cứu TVHT trong môi trường ĐH ảo (học tập trên mạng hoặc ĐH từ xa, ĐH trực tuyến), với hình thức TVHT trực tuyến.
Yếu tố chính của hình thức này chủ yếu tập trung vào chức năng của CVHT, cách thức tổ chức các hoạt động TVHT [64]. Young-Jones và các cộng sự có công trình nghiên cứu “TVHT: nó có thực sự ảnh hưởng đến thành công của SV”, nghiên cứu đánh giá kết quả TVHT của SV dựa trên nhu cầu tư vấn của họ. Công trình sử dụng một số phương pháp để nghiên cứu: phương pháp luận, cách tiếp cận, luan an 10 thiết kế chương trình để khảo sát 611 SV, về nhu cầu TVHT và những kinh nghiệm của SV khi được tư vấn. Qua phân tích các phản hồi của SV, kết quả thu được có 6 yếu tố cơ bản ảnh hưởng rõ rệt đến sự thành công trong học tập của SV thông qua TVHT: cố vấn trách nhiệm, cố vấn trao quyền, trách nhiệm của SV, học sinh tự định hiệu quả, kỹ năng học tập của SV và hỗ trợ nhận thức [56].
Tại hội thảo quốc tế lần thứ 4 tại Việt Nam, tác giả Nguyễn Thụy Vân đã đánh giá cao hiệu quả TVHT bằng việc chứng minh các công trình đã được các tác giả nước ngoài nghiên cứu như: “Nhiều nghiên cứu cho thấy một TVHT hiệu quả đóng một vai trò trong phát triển SV (Light, 2001; Pizzolato, 2008; Reinarz & Ehrlich, 2002), gắn liền với thành công học tập của học sinh (Bahr, 2008; Campbell & Nutt, 2008; Museus & Ravello, 2 (10), ảnh hưởng đến các quyết định và thái độ đối với việc học suốt đời (Hunter & White, 2004; Smith & Allen, 2006; Stickle, 1982), và liên quan đến sự hài lòng, tuyển dụng và duy trì của học sinh (E l lio tt) & Healy, 2001; Freeman, 2108; Peterson, Wagner, & Lamb, 2001)” [72]. Tổng quan tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Cùng bàn về vấn đề TVHT, một số tác giả đã có những nghiên cứu tại các cơ sở giáo dục ĐH, các bài viết đều được tập trung nghiên cứu dưới vai trò CVHT. Điểm lại các công trình đó có thể thấy có một số công trình nghiên cứu nổi bật sau: Tìm hiểu về nhu cầu TVHT, năm 2016, luận án tiến sĩ của tác giả Trần Văn Chương đã khảo sát và cho thấy hoạt động TVHT cho SV ở các trường này còn nhiều hạn chế mặc dù nhu cầu của SV rất cao. Qua đó tác giả đã đề xuất một số giải pháp quản lý đào tạo cho các trường ĐH địa phương nhằm nâng cao hiệu quả quản lý quá trình dạy học, trong đó có giải pháp: Xây dựng đội ngũ CVHT với chức năng chủ yếu là tư vấn và hỗ trợ SV trong quá trình luan an 11 học tập và nghiên cứu khóa học [5].
Tác giả Nguyễn Thị Út Sáu đã chỉ ra một số nhu cầu cần thiết về TVHT theo học chế tín chỉ của SV ĐH Sư phạm - ĐH Thái Nguyên. Thứ nhất, nhu cầu nội dung TVHT bao gồm: (1) Hoạt động đăng ký học tập, (2) Hoạt động học tập lý thuyết, (3) Hoạt động tự học, tự nghiên cứu, (4) Hoạt động thảo luận, seminar. Thứ hai, nhu cầu về tổ chức, cá nhân. Thứ 3, nhu cầu về hình thức TVHT.
Tác giả mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu tìm hiểu nhu cầu TVHT của SV ở một số góc độ như: ngoài giờ học lý thuyết trên lớp, SV còn phải học qua hình thức trải nghiệm thực tế, qua tham quan dã ngoại, qua cách khai thác tài liệu,. Tuy nhiên, tác giả cũng chưa đề cập đến các biện pháp và hình thức tư vấn các nội dung đó như thế nào, mà quá trình TVHT này hoàn toàn phụ thuộc vào yếu tố của người thầy thông qua nhu cầu tư vấn của SV [34]. Trong cuốn Kỹ thuật dạy học trong đào tạo theo học chế tín chỉ của tác giả Đặng Xuân Hải (2011) đã nêu rõ vai trò của CVHT là giúp đỡ SV trong học tập [13]. Cùng bàn về vai trò của CVHT trong TVHT tác giả Lâm Quang Thiệp (2007) có bài viết “Học chế tín chỉ và việc áp dụng ở Việt Nam” tác giả cho rằng SV phải được gắn chặt với CVHT để tư vấn hướng dẫn cho SV lựa chọn môn học và thiết kế quy trình học tập cho mình một cách cụ thể [39] Với cách nhìn xuyên suốt, tổng thể những hạn chế, khó khăn trong TVHT, đề xuất giải pháp khắc phục, tác giả Trần Thị Minh Đức có bài viết đi sâu tìm hiểu nhu cầu TVHT của SV và thực trạng việc CVHT tại Việt Nam.
Từ khía cạnh trách nhiệm của CVHT và nhu cầu TVHT của SV, tác giả đã thống kê, phân tích cho thấy bốn nhóm nội dung công việc chính mà CVHT thường làm, trong đó nhóm đầu tiên được xác định là: phương pháp học tập, nghiên cứu khoa học,. Với kết quả thu được về công tác TVHT cho SV hiện nay, tác giả nhận định công tác TVHT còn gặp những khó khăn, hạn chế nhất luan an 12 định do những yếu tố khách quan, chủ quan từ cách nhìn nhận, đánh giá nhiệm vụ CVHT của SV.