MỞ ĐẦU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài 1.1 Trong nước Theo kết quả phân tích dựa theo phương pháp phân tích xoay nhân tố của Nguyễn Công Toàn (2014) cho thấy, các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút người lao động trở về địa phương làm việc là bản thân gia đình của người lao động; Cơ hội làm việc tại địa phương, giúp họ có điều kiện tốt để phát huy năng lực bản thân khi về quê làm việc; Môi trường làm việc ngoài tỉnh là lực đẩy góp phần tạo nên luồng di cư ngược lại của người lao động về địa phương có xu hướng ngày càng nhiều do mức sống và chi phí sinh hoạt khi đi làm ngoài tỉnh cao và công việc làm ngoài tỉnh bị áp lực, cạnh tranh cao, công việc không phù hợp dẫn đến thu nhập của người lao động bấp bênh. Theo nghiên cứu của Trần Điều và cộng sự (2015) áp dụng phương pháp kiểm định độ tin cậy bằng hệ số Cronbach alpha, phân tích nhân tố và hồi qui tuyến tính cho thấy, các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn địa phương làm việc của sinh viên trường ĐHNT gồm 6 nhân tố: Việc làm; Đặc điểm riêng của địa phương; Chính sách ưu đãi của địa phương; Thông tin và quy trình tuyển dụng của địa phương; Đặc điểm cá nhân; Các cá nhân có ảnh hưởng. Trong đó, nhân tố “Đặc điểm cá nhân” có tác động mạnh nhất đến quyết định chọn địa phương làm việc. Cũng theo phương pháp phân tích đó, nghiên cứu của sinh viên trường đại học Mở TPHCM cho thấy có 3 yếu tố tác động trực tiếp là Cơ hội việc làm,Tình cảm quê hương, Thu nhập.
Nghiên cứu của Võ Chính Thống(2015) cũng cho ra kết quả tương tự, nhưng có thêm 1 biến tác động đó là môi trường kinh tế-xã hội, chính trị của địa phương. Theo kết quả phân tích của Huỳnh Trường Huy và cộng sự (2011) cho thấy rằng gần 60% sinh viên (từ các tỉnh khác). Các yếu tố gồm cơ hội học tập, phát triển nghề nghiệp và thu nhập là những nguyên nhân chính dẫn đến quyết định trên. Bên cạnh đó, những yếu tố về nhân khẩu học cũng có ảnh hưởng ý nghĩa thống kê đến quyết định chọn nơi làm việc.
Bên cạnh đó Lê Trần Thiên Ý và cộng sự (2013) đã thông qua phương pháp phân tích nhân tố và mô hình hồi quy nhị nguyên, rút ra được 5 nhân tố tác động đến quyết định về quê làm việc của sinh viên sau tốt nghiệp, xếp theo thứ tự tầm quan trọng: Điều kiện làm 1 Luan van việc tại địa phương, Tình cảm quê hương, Chi phí sinh hoạt ở địa phương, Mức lương bình quân tại địa phương, Chính sách ưu đãi của địa phương. Kết quả phân tích hồi quy cũng cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa sinh viên nam và nữ trong quyết định về quê làm việc. Trong khi đó, những sinh viên nào chịu sự chi phối bởi người thân khi quyết định chọn nơi làm việc thì sẽ có xu hướng về quê làm việc cao hơn so với những sinh viên không bị ảnh hưởng bởi gia đình. Bài nghiên cứu của Huỳnh Tấn Dũng (2015) cũng cho ra kết quả tương tự với 3 biến tác động: Tình cảm quê hương, tình cảm gia đình và mức thu nhập tại địa phương.
Vấn đề lao động nông thôn di cư ra thành thị và các khu công nghiệp tìm kiếm việc làm là vấn đề có tính xã hội, phụ thuộc khá lớn vào quá trình phát triển kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia. Và không thể phủ nhận vai trò tích cực của làn sóng di cư lao động từ nông thôn ra thành thị và các khu công nghiệp nhất là đối với các nước kinh tế chậm phát triển khi thu nhập và điều kiện sống còn có sự chênh lệch lớn giữa nông thôn và thành thị. Bài viết của Nguyễn Đình Long & Nguyễn Thị Minh Phượng(2013) đã khái quát tình hình và nguyên nhân thúc đẩy lao động từ nông thôn ra thành thị, từ đó khuyến nghị chính sách tạo điều kiện để phát huy những mặt tích cực và hạn chế tiêu cực đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội.2 Ngoài nước Nghiên cứu của Natalie (2006) thực hiện trên nhóm học sinh tốt nghiệp phổ thông, tốt nghiệp đại học và nhóm lao động trẻ ở Pennsylvania, Hoa Kỳ. Tác giả sử dụng phương pháp thảo luận nhóm với những nhà điều hành giàu kinh nghiệm để khám phá các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn công việc của thanh thiếu niên ở bang này.
Còn Nitchapa Morathop (2010) lại sử dụng kết hợp phương pháp thống kê mô tả và mô hình hồi quy nhị phân logistics đại diện cho ý định về quê làm việc nhằm xác định các nhân tố tác động đến dự định chọn nơi làm việc của sinh viên năm cuối, Trường Đại học Naresuan, Thái Lan.2 Lý do chọn đề tài Hiện nay người lao động ngày càng có xu hướng tập trung về các thành phố lớn nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng để tìm kiếm cơ hội việc làm. Điều này đã dẫn 2 Luan van đến việc mất cân đối trong chuyển dịch nguồn lao động giữa các khu vực. Song song đó, nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển, kéo theo hàng loạt các khu công nghiệp, nhà máy… mọc lên tại nhiều địa phương. Tuy nhiên do việc tập trung lao động ở những thành phố lớn đã dẫn đến địa phương bị mất cân đối trong cơ cấu nguồn lao động, nghĩa là thừa nguồn lao động chân tay nhưng thiếu nguồn lao động có chuyên môn cao, trình độ cao (Nguyễn Đình Long, Nguyễn Thị Minh Phượng, 2013).
Theo Tổng cục thống kê, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước đến thời điểm 1/4/2017 ước tính là 54,5 triệu người. Xét theo khu vực, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên khu vực thành thị là 18,1 triệu người (chiếm 33,2%); khu vực nông thôn là 36,4 triệu người (chiếm 66,8%.) Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi quý I/2017 ước tính là 2,30%, trong đó khu vực thành thị là 3,21%; khu vực nông thôn là 1,82%. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi quý I năm nay ước tính là 1,74%, trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 0,80%; tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn là 2,25%. Qua đó cho ta thấy lực lượng lao động phân bố không điều giữa các vùng và tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm vẫn còn sự chênh lệch cao giữa thành thị và nông thôn.
Vì thế, vấn đề đặt ra là làm sao thu hút được người lao động trở về quê làm việc, đặc biệt là những đối tượng có sự nhiệt huyết, khả năng tiếp thu cao như sinh viên mới ra trường luôn là bài toán khó đối với mỗi địa phương hiện nay. Nắm bắt được vấn đề trên, nhóm nghiên cứu khoa học đã tiến hành phân tích và tìm ra được các nhân tố được xem là có ảnh hưởng đến quyết định hồi hương làm việc của sinh viên. Từ đó có thể đưa ra những giải pháp giúp cho địa phương có những chính sách cụ thể để đáp ứng đúng nguyện vọng của người lao động và thu hút được nguồn nhân lực để phát triển kinh tế, cống hiến sức trẻ cho quê hương.3 Mục tiêu nghiên cứu Hệ thống hóa lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định hồi hương làm việc của sinh viên đang học tập tại trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Thành Phố Hồ Chí Minh. Đề xuất các biện pháp để giúp sinh viên nhận thức được tầm quan trọng của việc quyết định hồi hương về quê làm việc là hợp lý, giúp cho địa phương có những chính 3 Luan van sách cụ thể để đáp ứng đúng nguyện vọng của người lao động và thu hút được nguồn nhân lực để phát triển kinh tế, cống hiến hiến sức trẻ cho quê hương đối với sinh viên ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Thành phố Hồ Chí Minh.4 Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp định lượng - Phương pháp hồi quy - Kiểm định thang đo 1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Sinh viên trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Thành Phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi nghiên cứu: + Không gian: trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật Thành Phố Hồ Chí Minh. + Nội dung: Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định hồi hương về quê làm việc của sinh viên trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật Thành Phố Hồ Chí Minh.6 Kết cấu của nghiên cứu Báo cáo nghiên cứu được chia thành năm chương với nội dung cụ thể như sau: Chương 1: Chương mở đầu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và kiến nghị 4 Luan van CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Lý thuyết về hành vi 2.1 Thuyết hành động hợp lý (TRA) Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) được Ajzen và Fishbein xây dựng từ cuối thập niên 60 của thế kỷ 20, được hiệu chỉnh mở rộng trong thập niên 70 và được xem là học thuyết tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu tâm lý xã hội (Eagly & Chaiken, 1993; Olson & Zanna, 1993; Sheppard, Hartwick, & Warshaw, 1988, trích trong Mark, C. Mô hình TRA cho thấy hành vi được quyết định bởi ý định thực hiện hành vi đó. Mối quan hệ giữa ý định và hành vi đã được nêu ra và kiểm chứng thực nghiệm trong rất nhiều nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực (Ajzen, 1988; Ajzen & Fishben, 1980; Canary & Seibold, 1984; Sheppard, Hartwick, & Warshaw, 1988, trích trong Ajzen, 1991, tr.
181 -186), theo đó ý định thực hiện hành vi được thể hiện qua xu hướng thực hiện hành vi. Ý định bao gồm các yếu tố động cơ có ảnh hưởng đến hành vi của mỗi cá nhân, các yếu tố này cho thấy mức độ sẵn sàng hoặc nỗ lực mà mỗi cá nhân sẽ bỏ ra để thực hiện hành vi. Hình 1: Mô hình thuyết hành động hợp lý (TRA) Niềm tin đối với những thuộc tính của sản phẩm, dịch vụ Thái độ Đo lường niềm tin đối với những thuộc tính của sản phẩm, dịch vụ Ý định Niềm tin về những người ảnh hưởng sẽ nghĩ rằng người bị ảnh hưởng nên hay không thực hiện hành vi Chuẩn chủ quan Sự thúc đẩy làm theo ý muốn của những người ảnh hưởng (Nguồn: Davis, Bagozzi và Warshaw, 1989, trích trong Chutter M.3) 5 Luan van Thái độ (attitude) của chúng ta ảnh hưởng đến hành vi của ta.