CHƯƠNG 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Nhằm tìm hiểu lịch sử vấn đề nghiên cứu, nhóm tiến hành tổng hợp qua những công trình nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài liên quan đến HĐTT. Kết quả thu được như sau: 1. Những nghiên cứu trong nước HĐTT đã thu hút được sự quan tâm, nghiên cứu của các tác giả trong nước.
Đề tài nghiên cứu khoa học: “Chất lượng thực tập của sinh viên năm cuối Trường Đại học Kinh tế Quốc dân” (NCKH.500) được nghiên cứu thông qua cựu sinh viên đã tốt nghiệp và tham gia vào thị trường lao động, cụ thể là sinh viên khóa 57, 58 trường Đại học Kinh tế quốc dân. Từ đó, phản ánh chất lượng lượng thực tập của sinh viên sắp ra trường cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực tập của sinh viên. Dựa trên xu hướng thực trạng là đo lường chất lượng thực tập thông qua kết quả đầu ra và đánh giá của doanh nghiệp, nghiên cứu được tiến hành và chỉ ra được các yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thực tập của sinh viên. Kết quả nghiên cứu cho thấy năng lực của sinh viên là yếu tố tác động mạnh nhất tới hiệu quả làm việc.
Bên cạnh đó các yếu tố như cơ sở vật chất, chương trình đào tạo của doanh nghiệp và sự hỗ trợ từ phía nhà trường cũng ảnh hưởng không hề nhỏ tới chất lượng thực tập của sinh viên. Tác giả Phạm Quốc Luyến trong nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động thực tập tốt nghiệp của sinh viên quản trị kinh doanh theo tiếp cận chuẩn đầu ra” đã nêu ra vấn đề: muốn quản lý một kỳ thực tập hiệu quả, phải quan tâm đến các yếu tố ảnh hưởng đến nó. Theo đó, nghiên cứu của tác giả đã chỉ ra hai nhóm yếu tố chính ảnh hưởng đến quản lý HĐTT tốt nghiệp. Nhóm yếu tố chủ quan bao gồm gồm 6 yếu tố: chương trình đào tạo; chất lượng giảng dạy các học phần chuyên môn nghiệp vụ; sinh viên thực tập; phương pháp và hình thức hướng dẫn, cách thức đánh giá kết quả thực tập tốt nghiệp; đội ngũ GVHD và chủ thể quản lý thực tập.
Nhóm yếu tố khách quan bao gồm 3 yếu tố: c ác văn bản, quy chế quy định về thực tập tốt nghiệp; điều kiện cơ sở vật chất phục vụ HĐTT và quan hệ giữa cơ sở đào tạo và cơ sở thực tập. Tác giả Tạ Thị Huyền trong nghiên cứu “Thái độ đối với hoạt động thực tập tại doanh nghiệp của sinh viên trường Cao đẳng Công nghiệp Bắc Ninh” (2018) đã chỉ ra thực trạng thái độ đối với HĐTT tại doanh nghiệp của sinh viên dựa trên 3 mặt nhận thức, cảm xúc, hành động. Kết quả nghiên cứu cho thấy, phần lớn sinh viên đều có thái độ tích cực trong HĐTT. Bên cạnh đó, trong các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ đối với HĐTT, yếu tố chủ quan về sức khỏe, động lực làm việc và sự hứng thú, yêu thích công việc rất ảnh hưởng đến thái độ của họ.
Còn yếu tố khách quan về tiền hỗ trợ tác động mạnh nhất đến TTS. Trong đề tài “Vấn đề thực tập của sinh viên ngành thông tin - thư viện dưới góc nhìn của cơ quan tiếp nhận thực tập” (2020) của ThS. Nguyễn Thị Hồng Trang, tác giả nêu lên một số vấn đề về thực trạng thực tập hiện nay của sinh viên và việc tiếp nhận sinh viên của các cơ sở thực tập. Từ đó, tác giả đưa ra một số kiến 8 nghị, giải pháp nhằm góp phần tăng cường hiệu quả thực tập của TTS chuyên ngành thông tin - thư viện.
Các yếu tố ảnh hưởng đến HĐTT của TTS ngành thông tin - thư viện là: (1) Điều kiện làm việc; (2) Sự liên kết giữa nhà trường và cơ sở thực tập; (3) Cơ sở thực tập: sự phân công công việc, cấp trên, đồng nghiệp ; (4) Giảng viên hướng dẫn. Trong cùng lĩnh vực, Đào Đức Thuận (2007) với nghiên cứu về “Thực tập thực tế trong chương trình đào tạo cử nhân khoa học ngành lưu trữ học và quản trị văn phòng” cũng tập trung phân tích một số vấn đề có liên quan tới việc tổ chức thực tế thực tế cho sinh viên, tuy nhiên, tác giả không bàn sâu về nội dung thực tập thực tế của sinh viên. Các vấn đề được đưa ra là những thuận lợi, khó khăn cơ bản trong quá trình tổ chức thực tập cho TTS, từ đó, tác giả phác họa bức tranh tổng quan về tình hình HĐTT của sinh viên chuyên ngành, đồng thời đưa ra một số kiến nghị nhằm làm cho việc tổ chức thực tập thực tế của sinh viên đạt chất lượng cao hơn. Nghiên cứu đề cập các yếu tố ảnh hưởng đến trải nghiệm thực tập của TTS bao gồm: (1) nhà trường: chương trình đào tạo, cách thức tổ chức thực tập; (2) cơ quan tiếp nhận thực tập: điều kiện, cơ sở vật chất, vị trí địa lý; (3) bản thân TTS: kiến thức chuyên môn, kiến thức xã hội; (4) cán bộ hướng dẫn: trình độ, kinh nghiệm của cán bộ.
Theo một cách tiếp cận khác, thông qua khảo sát 1180 SV tại 4 trường đại học các chuyên ngành tại TP.HCM, tác giả Huỳnh Văn Sơn (2017) đề cập đến khả năng thích ứng với môi trường mới của TTS khi trải nghiệm HĐTT trong nghiên cứu “Thực trạng kĩ năng thích ứng với môi trường công việc khi thực tập tốt nghiệp của sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh”. Theo tác giả, kĩ năng thích ứng của TTS có mối quan hệ qua lại với các yếu tố khách quan như: nội dung công việc, điều kiện cơ sở tại CSTT, quy tắc nơi làm việc, mối quan hệ giữa CSĐT - CSTT… Kĩ năng thích ứng với các yếu tố đó sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của HĐTT của TTS. Với cùng cách tiếp cận, trong lĩnh vực sư phạm - là ngành nghề được quan tâm nhiều nhất về vấn đề thực tập giảng dạy, trong Luận văn thạc sĩ “Khả năng thích ứng nghề nghiệp của sinh viên Sư phạm tại Đại học Quy Nhơn trong thực tập sư phạm” (2014) của tác giả Nguyễn Thị Như Hồng, tác giả đã chỉ ra các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thích ứng nghề nghiệp cũng như trải nghiệm HĐTT như sau: - Nhóm yếu tố chủ quan bao gồm: (1) Các yếu tố sinh học, thể chất (2) Tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đã có của TTS (3) Tính tích cực, tự giác, sáng tạo trong thực tập (4) Động cơ, lý tưởng, hứng thú nghề nghiệp (5) Ý thức của bản thân về giá trị nghề dạy học - Nhóm yếu tố khách quan bao gồm: (1) Ảnh hưởng của GVHD (2) Điều kiện cơ sở vật chất, nội dung, chương trình, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, giáo dục ở trường Đại học sư phạm (3) Việc tham gia vào các hoạt động ở trường phổ thông (4) Các phương tiện thông tin đại chúng (sách báo, truyền hình, phim ảnh,…) 9 (5) Sự giúp đỡ của bạn bè, người thân Thực tập sư phạm cũng được nhiều nhà nghiên cứu khác quan tâm. Nghiên cứu “Về thực tập sư phạm của sinh viên hệ sư phạm Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội” (2009) của nhóm tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng, Đỗ Thị Phương Thúy và Nguyễn Thị Phương Hoa đã chỉ ra những thuận lợi và khó khăn trong HĐTT của sinh viên sư phạm.
Dựa vào thực tế, thực trạng thực tập giảng dạy của sinh viên trường, nhóm tác giả cho biết tầm ảnh hưởng của những thuận lợi, khó khăn mà sinh viên có đến thái độ của họ đối với nghề giáo viên. Theo nghiên cứu, những thuận lợi và khó khăn tác động đến HĐTT của sinh viên đến từ phía yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan. Chẳng hạn như kiến thức, kỹ năng của chính sinh viên; sự hướng dẫn nhiệt tình của giảng viên trường Đại học Ngoại ngữ; sự tạo điều kiện của Ban chỉ đạo thực tập ở trường phổ thông và sự nhiệt tình của giảng viên phổ thông. Hợp, trong nghiên cứu “Quy trình thực tập sư phạm dựa vào chuẩn trong đào tạo giáo viên kĩ thuật”, được đăng trên Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Nghiên cứu Giáo dục, Tập 31, Số 3 (2015), 42-49.
Bài báo đi sâu phân tích thực trạng các chuẩn nghiệp vụ sư phạm của thực tập giảng dạy kĩ thuật hiện nay, từ đó đề xuất cách tiếp cận và quy trình thực tập sư phạm dựa vào chuẩn. Các yếu tố được tác giả nhắc đến là: (1) Quy định của Pháp luật; (2) Năng lực của TTS (bao gồm kỹ năng nghề nghiệp, kinh nghiệm giảng dạy); (3) Môi trường thực tập; (4) Sự phân công công việc. Trong đó, năng lực của TTS được coi là yếu tố quan trọng nhất. Nghiên cứu “Một số yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng rèn nghề của sinh viên ngành giáo dục mầm non, trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương” của tác giả Trần Thị Ngoan phân tích chất lượng thực tập và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thực tập của TTS ngành sư phạm.
Các yếu tố ảnh hưởng được nhắc đến: (1) Cơ sở thực tập bao gồm quy mô, cơ sở vật chất, đồng nghiệp, phương pháp làm việc; (2) Sự tận tụy, yêu thích công việc của TTS; (3) Kỹ năng mềm của TTS, đặc biệt là khả năng kết nối, xây dựng mối quan hệ với mọi người. Tác giả Hà Lê Kim Anh đã có cách tiếp cận khác với HĐTT. Trong nghiên cứu trao đổi “Đề xuất cải tiến thực tập sư phạm ngoại ngữ nhìn từ góc độ chương trình đào tạo cử nhân sư phạm tiếng Anh” (2019), tác giả tập trung phân tích chương trình đào tạo cử nhân sư phạm ngoại ngữ của 9 cơ sở đào tạo tại Việt Nam - là tiền đề cung cấp kiến thức nền tảng để SV tham gia vào HĐTT. Từ đó, tác giả đưa ra các đề xuất cải tiến chương trình thực tập ngoại ngữ nói chung và thực tập sư phạm tiếng Anh nói riêng của Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Nhìn chung, cơ sở đào tạo hay nhà trường là yếu tố ảnh hưởng lớn đến HĐTT. Nhìn từ góc độ của GVHD, nghiên cứu "Giám sát sinh viên thực tập thực tế: Một công việc có tính chuyên nghiệp" (2008) của tác giả Trần Thị Minh Đức đã nhấn mạnh vai trò của GVHD thực tập đối với TTS chuyên ngành tâm lý học. Nghiên cứu cho rằng, GVHD phải là người có chuyên môn sâu về lĩnh vực, có kinh nghiệm, đây sẽ là yếu tố quan trọng tạo nên kỳ thực tập thành công. Ngoài ra, giảng 10 viên có mối quan hệ tốt với cơ sở thực tập cũng là một ưu thế.