CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu về liên kết đào tạo và sử dụng lao động 1. Các nghiên cứu liên quan đến nội hàm liên kết đào tạo và sử dụng lao động Các nghiên cứu liên quan đến nội hàm liên kết đào tạo và sử dụng lao động được thể hiện qua các công trình sau: Methaya S.
Monaiyapong (2004) trong nghiên cứu về “The University -Industry- Government linkages and knowledge production: An arising concept of National Innovation System in Thailand” đề cập đến bản chất các mối liên kết nghiên cứu của Đại học-Công nghiệp-Chính phủ (UIG) và khám phá bản chất của từng lĩnh vực trong vai trò sáng tạo và chuyển giao kiến thức kỹ thuật. Nghiên cứu này cho rằng cách hiệu quả nhất để cải thiện năng lực công nghệ của một quốc gia là có một hệ thống đổi mới quốc gia được quản lý tốt (NIS), trong đó UIG là nhân tố chính. Bằng cách khuyến khích các mối liên kết nghiên cứu UIG thì các lợi ích lâu dài sẽ được thực hiện. Mục tiêu của nghiên cứu là để điều tra sự tồn tại và mức độ liên kết nghiên cứu UIG ở Thái Lan.
Đồng thời, nghiên cứu giải thích mối quan hệ giữa liên kết UIG trong bối cảnh của hệ thống NIS, nơi mà các yếu tố ảnh hưởng đến các liên kết này theo cả một cách tích cực và tiêu cực. Kết quả chung cho thấy trường đại học đóng vai trò chủ đạo trong mối liên kết UIG ở Thái Lan. Các vấn đề cản trở các liên kết UIG có thể được nhóm lại thành ba vùng rộng, đó là: những nguồn lực hạn chế, thông tin bất đối xứng và chính sách của chính phủ. Cuối cùng, nghiên cứu này cho thấy rằng tăng cường năng lực công nghệ của Thái Lan giúp tăng trưởng kinh tế.
Điều này đòi hỏi sự hiểu biết lẫn nhau và hỗ trợ từ mọi phía bên trong hệ thống. [93] Bộ Giáo dục và Đào tạo liên bang Đức (2003) đã đưa ra ấn phẩm “Germany’s Vocational Education at a glance” tập trung vào hệ thống đào tạo nghề kép tại Đức, đó là sự kết hợp giữa việc học nghề trong môi trường thực tế tại một DN và tại trường dạy nghề, trong đó các DN tập trung vào việc cung cấp kiến thức và kỹ năng thực tế phù hợp với công nghệ sản xuất của DN, còn NT cung cấp khối kiến thức lý thuyết về cơ bản nhiều hơn. Mặt khác, ấn phẩm đã phân tích cái nhìn chung nhất về đào tạo nghề kép tại Đức như: các đặc điểm, thành tố cơ bản trong đào tạo, các nghề đào tạo phổ biến, chương trình dạy nghề, chi phí - lợi ích trong đào tạo nghề kép, cách thức đào tạo. Từ đó đưa ra bài học kinh nghiệm xây dựng mô hình đào tạo nghề cho các nước khác.
[78] Tazeen Fasih (2008) đã đưa ra ấn phẩm “Linking Education Policy to Labor Market Outcomes” tập trung về vấn đề kết nối chính sách giáo dục và kết quả của thị trường LĐ. Báo cáo cũng chỉ ra rằng: Nhu cầu xã hội về đào tạo phải xuất phát từ thị trường LĐ và đảm bảo mối quan hệ cung - cầu về LĐ có trình độ; DN sẽ có những đòi 13 hỏi khác nhau về chuyên môn và kĩ năng nghề nghiệp của LĐ; Các nước có trình độ phát triển kinh tế khác nhau cũng sẽ có những yêu cầu khác nhau về phát triển giáo dục, kĩ năng liên quan. Việc gắn đào tạo với nhu cầu xã hội không những đáp ứng về quy mô đào tạo mà còn phù hợp tới cơ cấu ngành nghề, đòi hỏi chuyên môn của nhà tuyển dụng. [106] Một nhóm tác giả từ nhiều quốc gia châu Á (2009) đã đưa ra ấn phẩm “Linking vocational training with the enterprises - Asian Perspectives” chủ yếu tập trung phân tích các mô hình liên kết giữa DN với giáo dục - đào tạo phù hợp với thực tế của mỗi quốc gia, như: Mô hình “kết hợp trường học - nhà máy”, Mô hình “hợp tác quốc tế”.
của Trung Quốc; mô hình "hệ thống 2+1" (2+1 system) của Hàn Quốc; các mô hình “Hợp tác lẫn nhau giữa DN và trường học”, “Mô hình đào tạo theo đơn đặt hàng”, mô hình hợp tác đào tạo nghề ở Thái Lan. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn đưa ra kinh nghiệm xây dựng mối quan hệ hợp tác chiến lược giữa các bên liên quan trong đào tạo nghề ở các nước trên. Từ đó, nghiên cứu rút ra bài học kinh nghiệm cho phát triển đào tạo gắn với DN tại Việt Nam. [62] Lin and Gui Juan (2011) trong nghiên cứu “The research on linkage between talents training in higher vocational colleges and demands on human resources market - a case study on xiamen institute of software technology” đã nghiên cứu mối liên kết giữa đào tạo nhân tài ở các trường Cao đẳng nghề và nhu cầu về thị trường nhân lực.
Luận án đã đưa ra lập luận dựa trên căn cứ hai lý thuyết: Lý thuyết Nhân lực và Lý thuyết Xây dựng. Lý thuyết nhân lực được áp dụng để các trường cao đẳng nghề cung cấp định hướng thị trường dựa trên cụm nghề nghiệp hoặc nghề nghiệp mà học viên lựa chọn. Mục đích là để đào tạo các kỹ thuật viên đủ điều kiện cho nhu cầu dạy nghề của thị trường nhân lực, hơn nữa, để phân bổ nguồn nhân lực hiệu quả. Một lý thuyết khác có liên quan là Lý thuyết cấu trúc, nó tăng cường liên kết đào tạo nhân tài ở các trường cao đẳng nghề với nhu cầu của thị trường nhân sự.
Sự nhấn mạnh được đặt vào tầm quan trọng của việc giảng dạy thực tế, cải thiện các cơ sở giảng dạy cho việc giảng dạy thực tế. Bên cạnh đó, nghiên cứu đưa ra kinh nghiệm của một số trường cao đẳng nghề ở nước ngoài về đào tạo nhân tài, phân tích các mô hình đào tạo điển hình tại các trường cao đẳng nghề trong nước, giới thiệu nội dung đào tạo, phân tích về tình hình thị trường nhân lực, tập trung vào mối quan hệ giữa đào tạo nhân tài trong các trường cao đẳng nghề và nhu cầu của thị trường nguồn nhân lực, trong đó lấy trường Cao đẳng Kỹ thuật Hạ Môn như một trường hợp nghiên cứu. [88] Markus and Simon (2015) đã nghiên cứu “Vai trò của DN trong phát triển kỹ năng nghề” nhấn mạnh đến phát triển kỹ năng nghề gắn với thị trường LĐ thông qua sự chủ động tham gia của DN trong việc lập kế hoạch, tổ chức và tài chính cho đào tạo nghề, như: tham gia vào khâu quản lý, khâu thiết kế chương trình giảng dạy và khâu đào 14 tạo. Việc dạy nghề chính là đào tạo LĐ cho DN, DN được thụ hưởng kết quả, sản phẩm của quá trình dạy nghề.
Vì vậy, cách liên kết DN với phát triển kỹ năng nghề chính là trao quyền cho DN để đảm bảo các kỹ năng của người LĐ sau đào tạo đáp ứng nhu cầu của thị trường LĐ. [89] Đặng Hoàng Vy (2016) trong nghiên cứu về “The relatonships Between the Vocational Education Training Providers and Enterprises: Theory and Practice” đã đề cập đến tầm quan trọng của các mối quan hệ liên kết giữa Đào tạo nghề và DN, được nhấn mạnh bởi các nhà chiến lược, chính trị gia, các nhà hoạch định chính sách đào tạo nghề (VET), và các nhà hoạch định công nghiệp. Bài viết này tập trung vào các mối quan hệ giữa cơ sở đào tạo nghề và các ngành công nghiệp VET. Cụ thể hơn, mục đích của bài báo này là: (1) thảo luận các yếu tố thành công hoặc hạn chế trong quan hệ đối tác giữa các bên liên quan chính trong lĩnh vực VET; (2) trình bày kinh nghiệm của mối quan hệ này ở các nước đang phát triển và phát triển như: Đức, Pháp, Anh, Hàn Quốc và Trung Quốc; (3) Cuối cùng, dựa trên các mô hình này, nghiên cứu đã đưa ra khuyến nghị thúc đẩy sự hợp tác toàn diện giữa các trường học và các ngành công nghiệp VET tại Việt Nam được đề xuất.
[65] Tác giả Gunnar Specht and Clemens Aipperpach (2009) đưa ra báo cáo “Vai trò của DN trong tổ chức và quản lý dạy nghề ở Việt Nam”. Nghiên cứu xác định được phạm vi, đặc điểm, hạn chế và tiềm năng của các cơ sở dạy nghề thuộc DN tại Việt Nam; về điều kiện để khối DN tham gia vào dạy nghề, và những tiềm năng và hạn chế của việc tiếp tục phát triển thị trường đào tạo khu vực tư nhân. Trong đó, nghiên cứu nhấn mạnh việc hợp tác chặt chẽ giữa các cơ sở dạy nghề với chủ sử dụng LĐ để đáp ứng nhu cầu của thị trường, các chương trình hợp tác đào tạo phù hợp với thiết kế khung trình độ quốc gia, các tiêu chuẩn nghề nghiệp. [80] Luận án “Phối hợp đào tạo giữa cơ sở dạy nghề và DN trong khu công nghiệp” của Nguyễn Văn Anh (2009) - Viện Khoa học giáo dục Việt Nam đã đi sâu nghiên cứu lý luận và thực tiễn phối hợp đào tạo giữa cơ sở dạy nghề và DN với những cách thức phối hợp trên quan điểm nguyên lý giáo dục như: thống nhất hài hòa giữa các mục tiêu nâng cao chất lượng của các chủ thể: người học, DN và cơ sở dạy nghề; chia sẻ bổ sung nguồn lực hướng đến sự hoàn thiện; môi trường phối hợp đào tạo.
Đồng thời, đề tài đánh giá thực trạng từ đó đề xuất một số giải pháp tăng cường phối hợp đào tạo giữa cơ sở dạy nghề và DN trong khu công nghiệp nhằm nâng cao chất lượng dạy nghề đáp ứng nhu cầu nhân lực kĩ thuật phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội miền Trung. Tuy nhiên nghiên cứu này chỉ mới tập trung vào lí luận về sự hợp tác giữa DN và cơ sở dạy nghề với cách tiếp cận theo hướng quản lí giáo dục và trong phạm vi hẹp tại khu công nghiệp ở 5 tỉnh: Chân Mây, Chu Lai, Dung Quất, Nhơn Hội và Vân Phong giai đoạn 1998 đến 2009 mà chưa hướng đến việc nghiên cứu lí luận về cơ chế, mô hình hợp tác, cơ sở kinh 15 tế lợi ích giữa hai bên ở từng ngành, địa phương trong xu hướng hiện nay.