CHƯƠNG I. Tính cấp thiết của đề tài Hình ảnh những sinh viên vừa đi học vừa đi làm thêm đã trở nên quá phổ biến trong xã hội. Việc làm thêm không những giúp sinh viên có thêm khoản thu nhập để trang trải việc học tập mà còn giúp sinh viên có kinh nghiệm cọ xát thực tế, tạo quan hệ, chứng tỏ được khả năng và bản lĩnh của mình trước doanh nghiệp. Rất nhiều bạn trẻ hiện nay không còn coi mục đích quan trọng nhất của làm thêm là vì thu nhập nữa.
Học bốn năm đại học nhưng đa số những kiến thức được học trong trường đều là lý thuyết không có nhiều thực hành, nên “kinh nghiệm” đối với một sinh viên ra trường rất quý báu. Ngoài kinh nghiệm làm việc, các bạn ấy còn nhận được những kinh nghiệm thực sự đáng giá trong cuộc sống: kinh nghiệm ứng xử, giao tiếp, quan hệ đồng nghiệp, giữa sếp với nhân viên. Được va vấp và trưởng thành hơn. Vì vậy mà vấn đề việc làm luôn luôn là vấn đề nóng bỏng, được không chỉ báo giới, các cơ quan ban ngành, các doanh nghiệp quan tâm mà nó đã ăn sâu vào suy nghĩ của rất nhiều sinh viên ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường đang không ngừng tích luỹ kiến thức, kinh nghiệm để đạt được mục đích cao đẹp của họ trong tương lai.
Xét về năng lực hành vi, sinh viên là một phần quan trọng trong độ tuổi lao động. Họ có thể lực, trí lực rất dồi dào. Xét về mục đích, sinh viên đi học là mong có kiến thức để có thể lao động và làm việc sau khi ra trường. Hiện nay, đông đảo sinh viên nói chung đã nhận thức được rằng có rất nhiều cách thức học khác nhau và ngày càng có nhiều sinh viên chọn cách thức học ở thực tế.
Đó là đi làm thêm. Việc làm thêm hiện nay đã không còn là hiện tượng nhỏ lẻ mà đã trở thành một xu thế, gắn chặt với đời sống học tập, sinh hoạt của sinh viên ngay khi vẫn còn ngồi trên ghế giảng đường. Sinh viên đi làm thêm ngoài vì thu nhập, họ còn mong muốn tích luỹ được nhiều kinh nghiệm hơn, học hỏi thực tế nhiều hơn…. Và sở dĩ việc làm thêm hiện nay đã trở thành một xu thế là vì đối với sinh viên, đặc biệt khi sống trong xã hội cạnh tranh như hiện nay, kiến thức xã hội và kiến thức thực tế ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tư duy cũng như khả năng làm việc của họ sau tốt nghiệp.
1 Tieu luan Với mong muốn đi sâu nghiên cứu vấn đề trên, nhóm nghiên cứu đã chọn đề tài “ Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đi làm thêm của sinh viên trường Đại học Thương Mại” làm đề tài nghiên cứu của mình. Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu 1.1 Mục tiêu nghiên cứu: - Mục tiêu chung: Tìm ra được các nhân tố tác động đến quyết định đi làm thêm của sinh viên Đại học Thương Mại. - Mục tiêu cụ thể: + Kết hợp các phương pháp nghiên cứu với mô hình nghiên cứu đưa ra được cường độ các yếu tác động đến quyết định của sinh viên. + Tìm ra những yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định đi làm thêm của sinh viên Đại Học Thương Mại.
+ Những lý do đằng sau quyết định đi làm thêm của sinh viên. + Nhận thấy những hạn chế, ưu và nhược điểm của việc đi làm thêm của sinh viên. + Hiểu rõ hơn về tâm lý cũng như những mong muốn của sinh viên khi quyết định đi làm thêm. + Đề xuất được các giải pháp hữu ích cho sinh viên để đưa ra quyết định tốt nhất.2 Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đi làm thêm của sinh viên Đại học Thương Mại.
Câu hỏi nghiên cứu 1. Có những nhân tố nào tác động đến quyết định đi làm thêm của sinh viên Đại học Thương Mại? 2. Tài chính của sinh viên có phải là nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đi làm thêm của sinh viên Đại học Thương Mại hay không? 3. Kinh nghiệm sống của sinh viên có phải là nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đi làm thêm của sinh viên Đại học Thương Mại hay không? 2 Tieu luan 4.
Thời gian có phải là nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đi làm thêm của sinh viên Đại học Thương Mại hay không? 5. Truyền thông của người tuyển dụng có phải là nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đi làm thêm của sinh viên Đại học Thương Mại hay không ? 1. Giả thuyết nghiên cứu Giả thuyết thứ nhất: Tài chính có thể là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đi làm thêm của sinh viên Đại học Thương Mại. Giả thuyết thứ hai: Kinh nghiệm sống có thể là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đi làm thêm của sinh viên Đại học Thương Mại.
Giả thuyết thứ ba: Thời gian có thể là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định đi làm thêm của sinh viên Đại học Thương Mại. Giả thuyết thứ tư: Truyền thông của người tuyển dụng có thể là yếu tố tác động không nhỏ đến quyết định đi làm thêm của sinh viên Đại học Thương Mại. Mô hình nghiên cứu Kinh nghiệm sống Quyết định đi làm thêm của Thời gian Tài chính sinh viên Truyền thông của người tuyển dụng Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đi làm thêm của sinh viên Đại học Thương Mại. Ý nghĩa của nghiên cứu 1.
Ý nghĩa lý luận Nghiên cứu đề tài này với mong muốn được đóng góp một nguồn tài liệu đáng tin cậy để mọi người tham khảo về vấn đề này. Đưa ra những nhân tố khách quan, những con số cụ thể, từ đó rút ra được cường độ tác động của từng nhân tố đến quyết định đi làm thêm của sinh viên. Ý nghĩa thực tế Đưa ra những mặt ưu và nhược của vấn đề nhằm cho sinh viên quyết định đi làm thêm thời điểm nào cho phù hợp để sinh viên cân bằng được cả việc học lẫn việc làm. Bài nghiên cứu có thể sẽ là một nguồn tham khảo đáng tin cậy khi sinh viên quyết định đi làm thêm.
Từ đó mà các nhà tuyển dụng có chiến lược kinh doanh vừa tạo ra năng suất cao trong công việc vừa phù hợp với sinh viên. Thiết kế nghiên cứu Phạm vi thời gian : từ tháng 2/2021 – tháng 4/2021 Phạm vi không gian : Trường Đại học Thương Mại Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đi làm thêm được thực hiện theo hai bước chính gồm nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức. Nghiên cứu sơ bộ: Được thực hiện thông qua nghiên cứu định tính, với kỹ thuật thảo luận nhóm tập trung gồm: Phân tích tổng hợp Thảo luận, trao đổi So sánh đối chiếu, từ đó hình thành phiếu câu hỏi khảo sát chính thức. Nghiên cứu chính thức: Thực hiện phương pháp nghiên cứu định lương bằng cách thu thập thông tin qua phiếu khảo sát chi tiết, phân tích qua biểu đồ tròn và dùng phần mềm SPSS để xử lý số liệu.
Công cụ thu thập dữ liệu: gồm cả định tính và định lượng. Phương pháp thu thập dữ liệu: 4 Tieu luan Định tính: Phỏng vấn,sử dụng công cụ thảo luận nhóm. Định lượng: Khảo sát, nhóm sử dụng Google Form để thiết kế phiếu điều tra khảo sát online. CHƯƠNG II.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Các khái niệm liên quan Khái niệm làm thêm (part-time job): Theo công ước số 175, năm 1994 về việc làm bán thời gian của ILO (International Labour Office - Tổ chức Lao động quốc tế), người làm bán thời gian (employed person) được định nghĩa là người có số giờ làm việc bình thường ít hơn so với những người làm việc toàn thời gian (worker). Một công ước cũng chỉ ra rằng ngưỡng thông thường để chia công nhân thành lao động toàn thời gian hay bán thời gian thay đổi tùy thuộc vào mỗi quốc gia, nhưng thường trong khoảng từ 30-35 giờ mỗi tuần. Nghiên cứu: bao gồm "hoạt động sáng tạo được thực hiện một cách có hệ thống nhằm làm giàu tri thức, bao gồm tri thức về con người, văn hóa và xã hội, và sử dụng vốn tri thức này để tạo ra những ứng dụng mới.
Hoạt động nghiên cứu được dùng để thiết lập hay xác nhận các dữ kiện, tái xác nhận kết quả của công trình trước đó, giải quyết những vấn đề mới hay đang tồn tại, chứng minh các định lý, hay phát triển những lý thuyết mới. Mục đích chính yếu của nghiên cứu cơ bản (khác với nghiên cứu ứng dụng) là thu thập dữ kiện, phát kiến, diễn giải, hay nghiên cứu và phát triển những phương pháp và hệ thống vì mục tiêu thúc đẩy sự phát triển tri thức nhân loại. Các hình thức nghiên cứu bao gồm: khoa học, nhân văn, nghệ thuật, kinh tế, xã hội, kinh doanh, thị trường. Cách tiếp cận nghiên cứu trong những lĩnh vực khác nhau có thể rất khác nhau.
Quyết định: là quá trình cân nhắc và lựa chọn trong hành động để đạt mục tiêu tốt nhất. Nhân tố ảnh hưởng: Nhân tố là các yếu tố chủ yếu gây ra, tạo ra cái gì đó. Ảnh hưởng nghĩa là tác động (có thể từ người, sự việc hoặc hiện tượng) có thể làm dần dần có những biến đổi nhất định trong tư tưởng, hành vi hoặc trong quá trình phát triển ở sự vật hoặc người nào đó. Chính vì vậy, “nhân tố ảnh hưởng” chính là nhân tố chính làm tác động đến con người hay sự vật sự việc nào đó.
Các kết quả nghiên cứu trước đó Số liệu điều tra về thực trạng sinh viên có tham gia đi làm thêm cho thấy số lượng sinh viên tham gia làm thêm tương đối đông. Có thể lý giải nguyên nhân tỉ lệ sinh viên tham gia lao động bán thời gian ngày càng nhiều là do lợi ích mang lại từ việc làm thêm như thu nhập, kỹ năng, kinh nghiệm… khiến cho các bạn sinh viên ngày càng hứng thú không chỉ đối với các bạn có hộ khẩu thường trú ngoại tỉnh mà còn cả đối với các bạn sinh viên có gia đình sinh sống trong nội thành.