Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG VIỆC CỦA SINH VIÊN TỐT NGHIỆP NGÀNH QUẢN LÝ GIÁO DỤC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Báo cáo của UNESCO (1998), “Higher Education Relevance in the 21st Century”, đã đề cập đến mối liên quan giữa giáo dục đại học với những thay đổi của xã hội. Trong bối cảnh kinh tế - chính trị - xã hội có những biến động, thay đổi nhanh chóng, người học cần được trang bị những năng lực để thích ứng không chỉ ở hiện tại mà còn với sự thay đổi trong tương lai [52].
Trong cuốn sách “Kinh tế học giáo dục: nghiên cứu và các chủ đề” do Geogre Psacharopoulos chủ biên (1987), bài viết “Công việc và giáo dục” của Henry H.Levin đã cho rằng cả hai khu vực giáo dục và việc làm đều thực hiện cải cách để tạo ra vốn nhân lực cho xã hội và tương tác với nhau để liên tục thiết lập các kết nối (tham khảo từ Phạm Thị Lan Phượng, 2015) [39]. Năm 2011, Trung tâm Nghiên cứu Tiếp thị Khoa học với Doanh nghiệp ở Đức đã thực hiện nghiên cứu về “Thực trạng của Quan hệ Hợp tác giữa Nhà trường và Doanh nghiệp ở Châu Âu”, kết quả nghiên cứu đã được phổ biến trên 3000 trường đại học tại 33 quốc gia. Nghiên cứu này đã trình bày những lý luận quan trọng và chủ yếu về mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp (tham khảo từ Phạm Thị Ly, 2012) [26]. Năng lực của SVTN được xem là khả năng của mỗi cá nhân có thể tham gia vào công việc, duy trì việc làm và có khả năng thích ứng khi chuyển đổi vị trí công việc trong cùng một tổ chức hoặc có thể thay đổi việc làm mới trong điều kiện cần thiết (Parry, 1998).
Một số mô hình lý thuyết về khả năng làm việc của SVTN đã được nghiên cứu trên thế giới như: mô hình CPS của Fugate et al (2004) (gồm các thành tố: thích ứng nghề nghiệp - bản sắc nghề nghiệp - vốn hiểu biết xã hội và con người); mô hình USEM của Yorke và Knight (2004) (gồm các thành tố: sự hiểu biết - kỹ năng - niềm tin - phẩm chất - tư duy/ siêu nhận thức); mô hình CarrerEDGE của Dacre Pool 8 và Sewell (2007) (gồm các thành tố: nghề nghiệp - kinh nghiệm - bằng cấp/ kiến thức chuyên môn - kĩ năng cốt lõi - trí tuệ cảm xúc) (tham khảo từ Phạm Văn Quyết, 2014) [43]. Các nghiên cứu về đánh giá năng lực SVTN trên thế giới như: Nghiên cứu về năng lực của các ứng viên tốt nghiệp ngành ngân hàng tại các trường đại học, cao đẳng ở Malaysia trong mắt nhà tuyển dụng “Business Graduates’ Competencies In The Eyes Of Employers: An Exploratory Study In Malaysia, University of Tenaga National, College of Business Management and Accouting, Sultan Haij Ahmad Shah Campus” (2010) của nhóm tác giả Shirley Ken Tzu Ting, Cheah Yeh Ying, Zuliawati Mohamed Saad và Aerni Isa. Kết quả cho thấy: sinh viên có kiến thức chuyên ngành khá tốt nhưng thiếu các kỹ năng mềm: KN viết, KN thuyết trình, KN viết bản báo cáo, KN nghiên cứu, KN phối hợp, KN thích nghi với sự đổi mới, KN đánh giá…Nghiên cứu đánh giá năng lực của các nhân viên điều dưỡng ngành y tế “Competency assesment of nursing staff” (2008) của tác giả Lynn Whelan. Nghiên cứu thực hiện đánh giá năng lực nhân viên dựa trên các yếu tố như kiến thức, kỹ năng và thái độ cư xử trong quá trình làm việc (tham khảo từ Nguyễn Thái Hòa, 2013) [18].
Trong các khảo sát về tình trạng việc làm và đánh giá chất lượng đầu ra của từng chương trình học tại các trường đại học hàng đầu trên thế giới có tích hợp việc đánh giá kiến thức, kỹ năng chuyên môn, thái độ nghề nghiệp của cựu SVTN như cuộc điều tra năm 1999 của trường Đại học Melbourne Úc với 3000 sinh viên và cuộc điều tra năm 2001 của trường Đại học Michigan với 6000 sinh viên. Các khảo sát này cung cấp cho nhà trường những yêu cầu công việc (kiến thức, kỹ năng) cần có của SVTN. Đây là cơ sở để nhà trường điều chỉnh chương trình đào tạo và nội dung đào tạo cho phù 9 hợp với yêu cầu của thị trường lao động (tham khảo từ Đỗ Nghiêm Thanh Nga, 2009) [28]. Tổng kết lại, nghiên cứu của UNESCO (1998) đã chỉ ra cần phải tăng cường sự tương thích giữa giáo dục đại học và thị trường lao động nhằm cung cấp cho SVTN những năng lực cần thiết để thích ứng với sự thay đổi ở hiện tại lẫn tương lai.
Các nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Tiếp thị Khoa học với Doanh nghiệp ở Đức (2011) (tham khảo từ Phạm Thị Ly, 2012), Henry H.Levin (1987) (tham khảo từ Phạm Thị Lan Phượng, 2015), Đại học Melbourne Úc và Đại học Michigan (tham khảo từ Đỗ Nghiêm Thanh Nga, 2009) đã chỉ ra được: tầm quan trọng và cần thiết của việc đánh giá năng lực SVTN đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục đại học. Bên cạnh đó các nghiên cứu của B.P Allen (1990) (tham khảo từ Đỗ Thị Thúy, 2012), Lynn Whelan (2008) và nhóm tác giả Shirley Ken Tzu Ting, Cheah Yeh Ying, Zuliawati Mohamed Saad và Aerni Isa (2010) (tham khảo từ Nguyễn Thái Hòa, 2013) đã nêu lên được một số kỹ năng cần thiết để SVTN đáp ứng được yêu cầu công việc. Đây là những cơ sở lý luận quan trọng cho đề tài của người nghiên cứu. Tại Việt Nam Năm 2013, Ngô Thị Minh thực hiện nghiên cứu về “Tình trạng thất nghiệp của thanh niên sinh viên hiện nay”, tác giả đã chỉ ra rằng: qua khảo sát hơn 20.000 người tìm việc (T8/2012) của Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động Tp.
Hồ Chí Minh cho thấy trên 50% sinh viên phải tìm kiếm việc làm nhiều lần hoặc làm việc trái nghành nghề đã học. Tình trạng này được ví von như là “không thất nghiệp nhưng thất nghề”. Những sinh viên ra trường không tìm được việc làm phải “làm bất cứ công việc gì để kiếm sống”. Một số sinh viên có điều kiện học cao lên để khỏi lãng phí thời gian nhàn rỗi, đã tạo nên tình trạng một số học viên của lớp cao học không có một chút kinh nghiệm nào và điều này thực chất chỉ là “chuyển từ hình thức cử nhân thất nghiệp sang thạc sĩ thất nghiệp”.
Tác giả cũng đề cập đến việc thực hiện mục tiêu “tỷ lệ sinh viên tất cả các hệ đào tạo trên một vạn dân vào khoảng 350-400 SV vào năm 2020” (theo Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020) dẫn đến quy mô đào tạo đại học thời gian qua tăng trung bình 13%/ năm. Việc mở trường, mở ngành 10 đào tạo chưa gắn với quy hoạch và yêu cầu sử dụng lao động làm mất cân đối cơ cấu ngành nghề và cơ cấu vùng miền; chỉ tiêu tuyển sinh chính quy các trường đều tăng nhưng công tác quản lý đào tạo của nhà trường còn buông lỏng; nhà trường thiếu trầm trọng đội ngũ cán bộ, giáo viên và cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu đặt ra,…là những nguyên nhân dẫn tới tình trạng đào tạo không đáp ứng nhu cầu xã hội. Điều này đang làm gia tăng tình trạng thất nghiệp của sinh viên hiện nay [27]. Năm 2011, nhóm tác giả gồm Quan Minh Nhựt, Trần Thị Bạch Yến và Phạm Lê Đông Hậu đã thực hiện nghiên cứu “Đánh giá mức độ đáp ứng chất lượng nguồn nhân lực theo yêu cầu doanh nghiệp đồng bằng sông Cửu Long được đào tạo bậc đại học trở lên” trên 98 doanh nghiệp, ngân hàng thương mại, sản xuất, kinh doanh thương mại, cơ quan hành chính sự nghiệp và các trường trung học phổ thông, cơ sở giáo dục thuộc các tỉnh/ thành trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long (Tiền Giang, Cần Thơ, Kiên Giang và Cà Mau).
Những đơn vị được lựa chọn có ít nhất 20% cán bộ và nhân viên đang công tác đã tốt nghiệp từ trường Đại học Cần Thơ. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: mức độ đáp ứng chất lượng đào tạo nguồn nhân lực theo yêu cầu của doanh nghiệp của trường Đại học Cần Thơ là khá tốt. Tuy nhiên việc đáp ứng yêu cầu, kỹ năng và điều kiện công việc của sinh viên không đồng đều ở các lĩnh vực hoạt động. Sinh viên dường như phù hợp hơn với yêu cầu công việc trong các trường THPT và các đơn vị hành chính sự nghiệp và chưa được đánh giá cao khi được tuyển dụng và làm việc tại các ngân hàng, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh.
Theo đó, sinh viên cần quan tâm và cải thiện nhiều hơn các kiến thức về lý thuyết cơ bản; kiến thức về cơ sở ngành và chuyên ngành; kỹ năng kinh nghiệm thực tiễn; khả năng giải quyết công việc; các kỹ năng mềm như khả năng giao tiếp, năng lực về ngoại ngữ và nghiên cứu khoa học [33]. Năm 2012, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Kim Dung về “Đánh giá thực trạng và tìm các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học tại trường Đại học Công nghệ Sài Gòn (STU)”. Đề tài đã tiến hành khảo sát ý kiến của các giảng viên (mẫu=130), các cán bộ quản lý (mẫu=38), nhân viên (mẫu=57), sinh viên (mẫu=2004), cựu sinh viên (mẫu=104), nhà tuyển dụng (mẫu=32) (tổng mẫu =2372). Kết quả cho 11 thấy, ý kiến của SVTN về 5 tiêu chí quan trọng nhất giúp sinh viên ra trường tìm việc làm: tính bền bỉ/ quyết đoán trong công việc, có tinh thần hợp tác, nhiệt tình trong công tác, năng lực giao tiếp và trình độ ngoại ngữ.
Các doanh nghiệp đề xuất nhà trường cần trang bị cho sinh viên kỹ năng làm việc thực tế, kỹ năng làm việc nhóm và ngoại ngữ; mô hình hóa thực tế trong giảng dạy, cho sinh viên đi thực tập nhiều hơn; đào tạo tư duy, tính sáng tạo cho sinh viên…[11]. Trong một nghiên cứu “Đánh giá khả năng thích ứng với công việc của sinh viên ngành kinh doanh du lịch trường Đại học Cửu Long” (2013) của nhóm tác giả Nguyễn Quốc Nghi, Huỳnh Thị Tuyết Anh, Nguyễn Thị Ngọc Yến, Phan Văn Phùng và Nguyễn Bích Ngọc, nhóm tác giả đã thực hiện nghiên cứu trên 100 SVTN ngành kinh doanh du lịch đang làm việc tại các doanh nghiệp, đơn vị đào tạo, cơ quan hành chính nhà nước và 18 đơn vị tuyển dụng các SVTN. Kết quả nghiên cứu cho thấy: NSDLĐ đánh giá SVTN ngành kinh doanh du lịch được đào tạo phù hợp và rất phù hợp với yêu cầu công việc (72,2%), khả năng thích ứng với công việc của SVTN được đánh giá là khả tốt và mức độ hoàn thành công việc của SVTN ở mức tốt đến rất tốt (35,5%).