Chương 1: Tổng quan về tình hình đào tạo ngành tài chính — ngân hàng và vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. 12 Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và kiến nghị Tóm lại Chương này đã giới thiệu tông quan vẻ tình hình đảo tạo ngành tài chính - ngân hàng tại các trường đại học.
Thời gian qua, ngành tài chính - ngân hàng được xem là một ngành được nhiều thí sinh quan tâm và có chỉ tiêu khá cao. Tuy vậy, số lượng nguồn nhân lực ngành tài chính - ngân hàng hiện nay đang dư so với nhu cầu xã hội. Chính vì vậy, Bộ đã có những ý kiến chỉ đạo về việc đào tạo ngành tài chính - ngân hàng và các trường cũng cần có những chính sách điều chỉnh số lượng sinh viên ngành tài chính - ngân hàng sao cho phù hợp với tình hình kinh tế. 13 CHƯƠNG2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này sẽ hệ thống lý thuyết về quyết định chọn ngành và những yếu tố tác động đến việc chọn ngành học dựa vào các nghiên cứu trước để làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu.
Cuối chương là mô hình nghiên cứu, đo lường các biên nghiên cứu, và giả thuyêt nghiên cứu. Cơ sơ lý luận và các nghiên cứu liên quan 2. Quyết định chọn ngành học Quyết định chọn ngành học là một quá trình mà người học đã phải cân nhắc, tính toán để ra quyết định tôi ưu, phù hợp với đặc tính cá nhân hay khả năng để đạt được mục tiêu nghề nghiệp trong tương lai. Quyết định này sẽ ảnh hưởng đến suốt cuộc đời của họ (Borchert, 2002, trang 11).
Quyết định chọn ngành học của phần lớn sinh viên xuất phát từ sớm, khoảng hai năm cuối của trung học phô thông (Hunjra và cộng sự, 2010). Sinh viên sẽ nhận thức vẻ tình kinh tế và xã hội và đặc tính riêng của họ đề lập kế hoạch và hình dung những điều đạt được khi chọn một ngành cụ thể (Gul, 1986). Sinh viên chọn ngành mà họ thấy phù hợp với phong cách cá tính riêng của họ và sự cảm nhận về nghề nghiệp trong tương lai (Saemann và Crooker, 1999) Ở Việt Nam, sinh viên thường được nhà trường, gia đỉnh, người thân tư vẫn trong việc chọn trường, ngành học phù hợp với mục tiêu nghề nghiệp và năng lực trước khi chuẩn bị tốt nghiệp. Tuy nhiên, theo Nguyễn Văn Hộ và Nguyễn Thị Thanh Huyền (2006, trang 40) cho răng hầu hết sinh viên sẽ tự đưa ra quyết định ngành học của mình.
Tuy vậy, băng các hình thức khác nhau, các quyết định này có thể bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài. Họ có thể chịu áp lực từ gia đình, thầy cô, bạn bè đề lựa chọn nghề nghiệp cụ thể (Bradford, 2005). 14 Nhu vay, quyét dinh chon nganh hoc 1a quyét dinh dé chon mét nganh nghé cho tương lai, quyết định này có thể do đặc tính cá nhân, cảm nhận của sinh viên, cơ hội nghề nghiệp, quyết định này còn có thể bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài như người thân trong gia đình, thầy cô, bạn bè và một số yếu tô khác. Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn ngành học và các nghiên cứu liên quan Khi lựa chọn nghề nghiệp, sinh viên có thê bị tác động bởi nhiêu yêu tô.
Trên thê giới, đã có nhiêu nghiên cứu về các yêu tô ảnh hưởng đên việc chọn nghệ nghiệp của học sinh, sinh viên gôm các yêu tô bên trong và yêu tô bên ngoài. Các yêu tô bên trong Yếu tô bên trong còn gọi là động cơ bên trong. Đây là các yêu tố chủ quan bao gôm: đặc tính cá nhân, sự cảm nhận về nghệ nghiệp. Thứ nhật, đặc tính cá nhân liên quan đên việc chọn ngành của sinh viên.
Đặc tính cá nhân hay tính cách của mỗi cá nhân là tính chât, đặc điểm nội tâm của mỗi con người, nó có ảnh hưởng trực tiệp đên suy nghĩ, lời nói và hành động của người đó. Nghiên cứu của Wolk và Cates (1994) đã kết luận rằng sinh viên ngành kế toán thì tính cách sáng tạo thấp hơn sinh viên ngành kinh doanh. Gul và Fong (1993) cũng nghiên cứu về đặc tính cá nhân của sinh viên trong việc chọn ngành. Kết quả nghiên cứu kết luận rằng sinh viên sống nội tâm là phù hợp hơn đề chọn ngành kế toán vì họ thích làm việc trong một môi trường độc lập thay vì làm việc trong nhóm.
Để đo lường đặc tính cá nhân, Saemann và Crooker (1999) đã sử dụng 30 tính từ thê hiện đặc tính cá nhân như Bảng 2.1: Các đặc tính cá nhân STT | Nhận + 1 điểm cho mỗi đặc tính | STT | Nhận - 1 điểm cho mỗi đặc tính 1 | Khéo léo ¡ |19_ | Tầm thường* Oo 2_ | Thân mật O 20 | Tục lệ* LI 3 | Có óc sáng tạo L] 21 Thật thà* 4_ | Nguồn gốc ¡ |22_ | Thành thật* 5 | Thao vat LI 23 | Có sự nghi ngờ” O 6 | C6 kha nang O 24 | Bat man* LI 7 | Tytin O 25 Lé phép* 8 | Khoi hai 1 |26 | Ty dac* o 9 | Sang suốt O 27 Cân thận* O 10 | Ty tin O 28 | Bảo thủ* 11 | Trưởng giả LI 29 Quyền lợi hẹp hòi* 12 | Độc đáo (1 |30 | Dễ bảo* o 13. | Ich ky ñ 14 | Chủ nghĩa cá nhân O 15 | Thông minh LI 16 | Nghi ngờ O 17 | Goi cam L] 18 | Quan tâm rộng O (* có điểm -1, còn lại +1). Nguồn: Saemann và Crooker (1999) 16 Sinh vién sẽ tự nhận xét mình có hoặc không có tính cách này. Đối với mỗi từ chọn có tính cách này, những từ có dấu sao (*) thì sẽ trừ 1, còn những từ không có dấu sao (*) sẽ cộng 1.
Sau đó, tính tổng các điểm này. Tổng cộng có 12 từ có dau sao va 18 tir không có dấu sao nên tổng sẽ dao động trong khoảng từ - 12 đến + 18 điểm. Số điểm càng cao thì thể hiện một cá nhân có tính sáng tao cao hơn. Cách sử dụng 30 tính từ thể hiện đặc tính cá nhân theo nhu Saemann va Crooker (1999) đã được sử dụng khá phô biến trong các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến chọn ngành.
Worthington và Higgs (2003) đã sử dụng 30 tính từ trên để nghiên cứu về mối liên quan giữa đặc tính cá nhân và việc chọn ngành tài chính của sinh viên tại trường đại học công nghệ Queensland ở Úc. Tương tự, trong một nghiên cứu khác của Worthington va Higgs (2004) cting da su dung 30 tính từ trên để nghiên cứu về mỗi liên quan giữa đặc tính cá nhân và việc chọn ngành kinh tế của sinh viên tại trường đại học công nghệ Queensland ở Úc. Sugahara và cộng sự (2008) cũng sử dụng 30 tính từ trên trong nghiên cứu về đặc tính cá nhân của sinh viên học ngành kế toán tại Úc. Hun†ra và cộng sự (2010) cũng sử dụng 30 tính từ trên trong nghiên cứu về đặc tính cá nhân của sinh viên học ngành tài chính.
Thứ hai, về sự thích thú của sinh viên đối với ngành học, sinh viên thường có xu hướng đăng ký vào ngành mà họ cho rằng công việc ngành này có nhiều hứng thú. Thích thú hay hứng thú có một vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động của con người. Nó là động cơ thúc đây con người tham gia tích cực vào môi trường làm việc. Khi người lao động được làm việc mà họ thích thú thì dù phải khó khăn họ cũng vẫn cảm thay thoải mái vả đạt được hiệu quả cao.
Trong học tập cũng như công việc, hứng thú có vai trò hết sức quan trọng và tỉ lệ thuận với kết quả học tập hoặc thành quả công việc. Kim và cộng sự (2002) đã nghiên cứu khám phá về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn ngành kinh doanh của sinh viên ở Mỹ và cho răng nhân tô chủ yêu ảnh hưởng đên việc chọn chuyên 17 ngành kinh doanh là tính thích thú trong nghề nghiệp. Uyar và cộng sự (2011) cũng đã nghiên cứu những yếu tô ảnh hưởng đến quyết định chọn chuyên ngành kế toán của sinh viên đại học Turkish ở Thổ Nhĩ Kỳ. Tác giả đã khảo sát 179 sinh viên các ngành kế toán, ngoại thương, ngân hàng, quản trị, quản lý văn phòng ở trường đại học Turkish.
Kết quả nghiên cứu của Uyar và cộng sự (2011) đã cho thấy: một trong các yếu tố chính ảnh hưởng đến việc chọn ngành kế toán của sinh viên là tính thích thú trong lĩnh vực kế toán. Saemamn và Crooker (1999) đã tiến hành nghiên cứu sự cảm nhận về tính thích thú đối với ngành kế toán của sinh viên ở Mỹ. Tác giả đã sử dụng năm tính từ đối lập để làm biến đo lường trong đo lường cảm nhận tính thích thú đối với nghề nghiệp. Các biến này được đo lường bằng thang đo 5 mức đối lập được trình như Bảng 2.
Kết quả cho thấy sự cảm nhận về tính thích thú của sinh viên là nhân tổ có ảnh hưởng lớn nhất đến quyết định chọn ngành học của sinh viên.2: Các biển đo lường cam nhận tính thích thú STT Mức thấp nhất Mức cao nhất 1 | Nham chan 1| 2) 3 | 4 | 5 | Thich thé 2 | Buồn tẻ 1|J2 13 |4 | 5 |Thúvị 3 Đơn điệu 112 |3 |4| 5 |Saymê 4 Bình thường 112 13 |4 5 | Uytin 5 | Tẻ nhạt 1|2|3 | 4 | 5 | Hap dan Nguồn: Saemann và Crooker (1999) Nhiều nghiên cứu khác đã sử dụng cách đo lường như Bảng 2.2 của Saemann và Crooker (1999) để nghiên cứu về tác động của tính thích thú đối với chọn ngành như: nghiên cứu của Worthington va Higgs (2003) va Worthington và Higgs (2004) để đo lường cảm nhận tính thích thú của sinh viên tại trường đại học công nghệ Queensland ở Úc trong việc chọn ngành tài chính và ngành kinh 18 tế. Sugahara và cộng sự (2008) cũng đã sử dụng năm biến đo lường này dé do lường cảm nhận tính thích thú của sinh viên trong việc chọn ngành kê toán 6 Uc. Bên cạnh đó, Hunjra và cộng sự (2010) đã sử dụng cách đo lường tương tự để khảo sát 300 sinh viên đang học chuyên ngành Tài chính tại trường đại học Islamabad ở Pakistan. Điểm khác biệt là tác giả chỉ sử dụng bốn biến đo lường đề đo lường tính thích thú và tác giả không sử dụng biến “bình thường” vì cho răng biến này không thể hiện rõ sự tác động.