chương 1, cũng đã nêu ra cấu trúc khái quát của cả bài và đưa ra ý nghĩa khoa học cũng như ý nghĩa thực tiễn của bài nghiên cứu. Đến với chương tiếp theo, tác giả sẽ đưa ra các khái niệm, lý thuyết và các thông tin khác liên quan đến đề tài. Từ đó, đề xuất mô hình nghiên cứu đề thực hiện nghiên cứu chuyên sâu. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYÉT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Định nghĩa các khái niệm liên quan 2. Khải niệm ra quyết định Ra quyết định là quá trình cân nhắc dẫn đến việc lựa chọn một phương án thực hiện trong số các phương án hiện có. Với việc đưa ra kết quả này phải dựa trên cơ sở của lý giải. Với quá trình tiến hành phân tích để tìm kiếm các lựa chọn tốt nhất.
Được thực hiện với chủ thể có quyền và tác động đến kết quả phản ánh đối với quyết định. Ra quyết định là công đoạn gần như sau cùng trong việc giải quyết vấn đề. Khi tiến hành dựa trên nền tảng của các nội dung đã được phản ánh trước đó. Trong các ý kiến được nhiều chủ thê đưa ra trong cuộc họp.
Với các nhu cầu của lựa chọn ý kiến thực hiện tốt nhất trên thực tế. Và người có quyền phải thực hiện cân nhắc để mang đến quyết định lựa chọn. Khái niệm việc làm Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà pháp luật không cam. Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm.” việc làm được cấu thành bởi 3 yếu tố: — Là hoạt động lao động: thé hiện sự tác động của sức lao động vảo tư liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ.
Yếu tổ lao động trong việc làm phải có tính hệ thống, tính thường xuyên và tính nghề nghiệp. Vì vậy người có việc làm thông thường phải là những người thể hiện các hoạt động lao động trong phạm vi nghề nhất định và trong thời gian tương đối ôn định. — Tạo ra thu nhập: Là khoản thu nhập trực tiếp và khản năng tạo ra thu nhập. — Hoạt động này phải hợp pháp: hoạt động lao động tạo ra thu nhập nhưng trái pháp luật, không được pháp luật thừa nhận thì không được coi là việc làm.
Tùy theo điều kiện kinh tế-xã hội, tập quán, quan niệm về đạo đức của từng nước mà pháp luật có sự quy định khác nhau trong việc xác định tính hợp pháp của các hoạt động lao động được coi là việc làm. Đây là dấu hiệu thê hiện đặc trưng tính pháp lí của việc làm. Khái niệm nơi làm việc Noi làm việc là một phần diện tích và không gian sản xuất mà trong đó được trang bị đầy đủ các phương tiện vật chất kỹ thuật cần thiết để đảm bảo cho một người lao động hay một nhóm người lao động hoàn thành những nhiệm vụ sản xuất — kinh doanh nhất định. Nơi làm việc là khâu đầu tiên của quá trình sản xuất, tại đó các yếu tố của sản xuất như máy móc thiết bị, đối tượng lao động và sức lao động được tổ chức và kết hợp lại với nhau để tạo ra các sản phâm theo yêu cầu của sản xuất.
Ở đó, con người vận dụng các khả năng thé lực và trí lực, sử dụng các công cụ lao động đề tác động lên các đối tượng lao động làm cho chúng thay đổi về chất và biến thành sản phẩm đáp ứng mục tiêu của tổ chức. Khải niệm sinh viên Sinh viên là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp. Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ. Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học.
Theo nghĩa rộng hơn, sinh viên là bất kỳ ai đăng ký chính mình để được tham gia các khóa học trí tuệ chuyên sâu với một số chủ đề cần thiết dé làm chủ nó như là một phần của một số vấn đề ngoài thực tế trong đó việc làm chủ các kiến thức như vậy đóng vai trò cơ bản hoặc quyết định. Tại Vương quốc Anh và Ấn Độ, thuật ngữ “sinh viên” dành cho những người đăng ký vào các trường trung học trở lên (ví dụ: cao đẳng hoặc đại học); những người ghi danh vào trường tiểu học/trung học được gọi là “học sinh. Các lý thuyết và mô hình nghiên cứu 2. Thuyết hành động hợp lý (TRA) 10 Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) được Ajzen và Fishbein xay dựng từ cuối thập niên 60 của thế kỷ 20, được hiệu chỉnh mở rộng trong thập niên 70 và được xem là học thuyết tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu tâm lý xã hội (Eagly và Chaiken 1993; Olson và Zanna 1993; Sheppard, Hartwick va Warshaw 1988)9.
Thuyét TRA được sử dụng để dự báo hành vi tự nguyện và giúp đỡ những người khác trong việc nhận ra yếu tố tâm lý của mình. Nó được thiết kế dựa trên giả định rằng con người thường hành động một cách hợp lý, họ xem xét các thông tin có sẵn xung quanh và những hậu quả từ hành động của họ. Theo TRA, hành vi được quyết định bởi quyết định thực hiện hành vi do. Quyét định là trạng thái nhận thức ngay trước khi thực hiện hành vi; là một yếu tố dẫn đến thực hiện hành vi.
Vì thế, quyết định hành vi (Behavior Intention - BI) là yếu tố quan trọng nhất dự đoán hành vi và chịu ảnh hưởng bởi hai yếu tố là thái độ đối với hành vi (Attitude Toward Behavior - AB) và chuẩn chủ quan (Subjective Norm - SN), đóng vai trò như các chức năng đề một người dẫn đến thực hiện hành vi. Thái độ (Attitude Toward Behavior) là yếu tố cá nhân thể hiện niềm tin tích cực hay tiêu cực, đồng tình hay phản đối của một người tiêu đối với hành vi và sự đánh giá đối với kết quả của hành vi đó. Chuẩn chủ quan (Subjective Norms) là nhận thức, suy nghĩ về những người ảnh hưởng (có quan hệ gần gũi với người có quyết định thực hiện hành vi như: người thân trong gia đình, bạn bẻ, đồng nghiệp) cho rằng nên thực hiện hay không nên thực hiện hanh vi (Ajzen 1991, tr. Hạn chế lớn nhất của thuyết này là hành vi của một cá nhân đặt dưới sự kiểm soát của quyết định.
Nghĩa là, thuyết này chỉ áp dụng đối với những trường hợp cá nhân có ý thức trước khi thực hiện hành vi. Vì thế, thuyết này không giải thích được trong các trường hợp: hành vi không hợp lý, hành động theo thói quen, hoặc hành vi được coi là không ý thức (AJzen 1985). Niễm tin đối với thuộc tính sản phẩm 11 Đo lường niêm tin đối với những thuộc tính của sản phầm Thái độ Niêm tin về những người ảnh hưởng sẽ nghĩ rằng tôi nên hay không nên mua sản phẩm Xu hướng hành vi Hanh vi thuc su Chuan chi quan Đo lường niêm tin đối với những thuộc tính của sản phầm ` a ` ⁄ Hình 2. Thuyết hành động hợp lý (TRA) 2.
Thuyết hành vi có kế hoạch - Theory of Planned Behavior (TPB) Thuyết hành vi có kế hoạch còn gọi là lý thuyết hành vi hoạch định, đây là mô hình mở rộng của thuyết TRA. Hành vi thực sự của một cá nhân được quyết định bởi xu hướng hành vi của họ. Mặt khác, xu hướng hành vi sẽ bị ảnh hưởng bởi 3 yếu tố, bao gồm thái độ đối với hành vi đó (tiêu cực hay tích cực), chuân chủ quan (ảnh hưởng của xã hội khiến cá nhân thực hiện hoặc không thực hiện hành vi) va kiểm soát hành vi cảm nhận, đây chính là nhân tố được mở rộng so với thuyết TRA. Yếu tố kiểm soát hành vi cảm nhận chính là việc người đó nhận diện hành vi thực hiện dễ dàng hay khó khăn (cơ hội và nguồn lực).
Đặc biệt, kiểm soát hành vi có thé tác động trực tiếp và dự báo được cả hành vi thực sự (AJzen, 1991). 12 Thái độ Xu hướng Hành vi hành vi thực sự Chuân chủ quan Kiểm soát hành vi cảm nhận Hình 2. Thuyết hành vi có kế hoạch - Theory of Planned Behavior (TPB) 2. Ly thuyét mat ma Holland Lí thuyết mật mã Holland (Holland codes) thuéc nhom Lí thuyết đặc tính cá nhân và đặc điểm nghề, được phát triển bởi nhà tâm lí học John Holland (1919- 2008).
Ông là người được biết đến rộng rãi nhất qua nghiên cứu lí thuyết lựa chọn nghề nghiệp. Có thể nói, lí thuyết mật mã Holland là lí thuyết thực tế nhất, có nền tảng nghiên cứu nhất và được các chuyên gia hướng nghiệp trong và ngoài nước Mỹ sử dụng nhiều nhất. Lí thuyết mật mã Holland đưa ra một số luận điểm rất có giá trị trong định hướng nghề nghiệp, trong đó có 2 luận điểm cơ bản là: - Nếu một người chọn được công việc phù hợp với tính cách của họ thì họ sẽ dễ dàng phát triển và thành công trong nghề nghiệp. Nói cách khác, những người làm việc trong môi trường tương tự như tính cách của mình hầu hết sẽ thành công và hài lòng với công việc.
- Việc xác định việc làm là tùy thuộc vào yếu tổ cá nhân của mỗi người. Hầu như ai cũng có thể được xếp vào 1 trong 6 kiểu tính cách và có 6 môi trường hoạt động tương ứng với 6 kiểu tính cách, đó là: Nhóm kĩ thuật (KT); Nhóm nghiên cứu (NC); Nhóm nghệ thuật (NT); Nhóm xã hội (XH); Nhóm quản lí 13 (QL); Nhóm nghiệp vụ (NV). Nội dung cơ bản của 6 nhóm tính cách theo lí thuyết mật mã Holland được thê hiện trong hình dưới đây: Lí thuyết mật mã Holland được áp dụng rộng rãi đối với người bắt đầu tìm hiểu sở thích, khả năng nghề nghiệp của bản thân và có ý nghĩa rất quan trọng. Thông qua việc sử dụng kết quả nghiên cứu của lí thuyết này, cho ta cơ sở để đối chiếu sở thích, khả năng của bản thân với những yêu cầu của các ngành nghề thuộc nhóm sở thích đã xác định.
Từ đó, đưa ra định hướng nghề nghiệp hoặc quyết định chọn nghề nghiệp tương lai. Lý thuyết cây nghề nghiệp Trích dẫn từ tài liệu chuyên đề Khám phá, lựa chọn và phát triển nghề nghiệp (Cục nhà giáo và Cán bộ quản lý cơ sở giáo dục - Bộ GD&ĐT) do Trần Phụng Hoàng Phoenix và Hồ Thị Thu biên soạn.