mở đầu cho việc ĐG, đo lường có hệ thống trong giáo dục. Từ những năm 50 cho đến thập kỷ 70 của thế kỷ XX, các công trình nghiên cứu ở giai đoạn này chủ yếu tập trung vào một số nội dung chính như làm sáng tỏ chức năng KT-ĐG tri thức HS đối với việc góp phần phát huy tính tích cực, tự lực, độc lập, hứng thú của HS trong hoạt động học tập; tìm ra các hình thức ĐG tri thức thích hợp với từng loại đối tượng HS, từng môn học, việc này được thể hiện rất rõ trong công trình nghiên cứu của V.Palonxki 7 với công trình "Những vấn đề dạy học của việc đánh giá tri thức"; F. Pêrôvxki với công trình "Cơ sở lý luận và thực tiễn của kiểm tra tri thức"; X.Uxôva với "Con đường hoàn thiện của việc kiểm tra đánh giá tri thức, kĩ năng" tiếp tục nghiên cứu và khẳng định vai trò của KT-ĐG đối với việc củng cố, hoàn thiện tri thức của HS. [59], [60], [95] Nghiên cứu vấn đề KT-ĐG dưới góc độ phương tiện điều khiển quá trình dạy học, N.V Savin đã nêu: "Kiểm tra là một phương tiện quan trọng không chỉ để ngăn ngừa việc lãng quên mà còn để nắm được tri thức một cách vững chắc hơn" [70].
Ông cho rằng, ĐG có thể trở thành một phương tiện quan trọng để điều khiển việc học tập của HS, đẩy mạnh phát triển giáo dục HS. Đánh giá được thực hiện trên cơ sở KT và ĐG theo hệ thống 5 bậc: Xuất sắc (điểm 5), Tốt (điểm 4), Trung bình (điểm 3), Xấu (điểm 2), Rất xấu (điểm 1). Savin khẳng định KT và ĐG là hai hoạt động khác nhau, nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. KT không chỉ giúp HS nắm tri thức mà còn nắm kĩ năng, kĩ xảo.Ilina cũng cho rằng:"Kiểm tra đánh giá kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo là rất quan trọng và là thành phần cấu tạo cần thiết của quá trình dạy học"[34, tr.
Đồng thời, tác giả còn nhấn mạnh chức năng quan trọng của KT, ĐG, coi nó như là một phương tiện để nâng cao chất lượng dạy học "Việc đánh giá là một phương tiện kích thích mạnh mẽ và có một ý nghĩa giáo dục rất lớn trong điều kiện nếu như nó được giáo viên sử dụng đúng đắn"[34, tr. Những năm qua, lĩnh vực nghiên cứu về KT-ĐG và đo lường trên thế giới đạt nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Có thể nói, hầu hết các tác giả tiêu biểu như Hughes, Ducan Harris, A. Nitko,…đã tập trung nghiên cứu và làm sáng tỏ định nghĩa, chức năng, vai trò của KT-ĐG đối với việc phát triển tri thức, năng lực, đặc biệt là tính tích cực, tự giác của HS, giúp các em tự tin hơn trong học tập và tự ĐG kết quả học tập của mình [98], [106], [111].
Đề cập đến việc đổi mới các hình thức, phương pháp ĐG, tài liệu "Why we need better assessment. Educational Leadership" [117], "Definitions and Assessment Methods for Critical Thinking, Problem Solving and Writing" [118] đã phân tích sâu hơn các ưu điểm của kĩ năng ĐG qua bài luận, giúp HS rèn 8 luyện tư duy phân tích, tổng hợp. "The Art of Assessing, Measurement and evaluation in teaching (6th Ed)" [108] cũng phân tích ưu điểm và nhược điểm của các dạng thức ĐG, song nhấn mạnh vai trò ĐG qua các câu hỏi TNKQ. Giai đoạn từ những năm 70 thế kỷ thứ XX trở lại đây, có rất nhiều công trình nghiên cứu giải quyết từng vấn đề cụ thể trong hoạt động KT-ĐG tri thức của HS.
Thời kỳ này đã có những cuộc thảo luận điểm số như một phương tiện đánh giá HS. Các nhà khoa học giáo dục cho rằng ý nghĩa giáo dưỡng và giáo dục của điểm số là sự kết hợp giữa điểm KT hàng ngày với điểm tổng kết trong việc ĐG trình độ của HS và mối quan hệ biện chứng của điểm số với các phương tiện khác nhau trong việc tổ chức quá trình dạy học và giáo dục cũng được xem xét. Gần đây vấn đề tự ĐG của HS được rất nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm.Goya (Ấn Độ) là nhà khoa học có nhiều năm làm việc ở UNESCO đã đi sâu tìm hiểu việc giảng dạy HS ở các vùng khó khăn cho thấy, việc tự KTĐG kiến thức của HS rất quan trọng. Theo tác giả, một khi HS tự ý thức được điểm mạnh cùng điểm yếu của mình và tự mình phát hiện ra điều mình đã biết, đã hiểu và những điều chưa biết, chưa hiểu thì tự chúng sẽ sản sinh ra động cơ học tập và hứng thú để khắc phục điểm yếu hoặc đào sâu lại các vấn đề nào đó.
Những thành tựu quan trọng trong lý thuyết đánh giá và đo lường có thể chia làm 2 giai đoạn. Giai đoạn đầu là sự phát triển của lý thuyết trắc nghiệm cổ điển. Trong giai đoạn này, việc ứng dụng CNTT chủ yếu phát triển thông qua việc sử dụng một số phần mềm hỗ trợ. Thông qua các phần mềm như Microsoft Office Excel, SPSS, JMP,… các đặc trưng như độ khó, độ phân biệt của các câu hỏi, độ tin cậy của đề KT, các tương quan được tính lí một cách dễ dàng và chính xác hơn, đây là những phần mềm chuyên dụng cho các tính lí như vậy.
Ngay cả những thống kê cổ điển về số lượng thí sinh lựa chọn mỗi phương án trả lời trong các câu hỏi có nhiều phương án lựa chọn hay một số đặc trưng khác sẽ được thống kê nhanh chóng phục vụ cho việc ĐG chất lượng các câu hỏi kiểm tra. 9 Giai đoạn tiếp theo là sự phát triển của lý thuyết đánh giá hiện đại mà cốt lõi là thuyết ứng đáp câu hỏi. Đây là giai đoạn mà việc ứng dụng CNTT là không thể thiếu trong việc đánh giá KQHT, đặc biệt là trong các đánh giá quan trọng. Khi lý thuyết này ra đời, việc dựa vào kinh nghiệm của chuyên gia không còn là yếu tố duy nhất quyết định chất lượng của đánh giá mà còn cần nhiều kiểm chứng khác, trong đó CNTT thể hiện sự trợ giúp đắc lực.
Như đã đề cập, lý thuyết này xây dựng trên cơ sở khoa học về xác suất và thống kê, do đó các thủ tục lặp, các mô hình ước tính được sử dụng nên việc sử dụng máy tính điện tử thông qua các phần mềm để ước tính các tham số câu hỏi và ước lượng năng lực của thí sinh là thật sự cần thiết để nâng cao độ chính xác cũng như đảm bảo được các sai số cho phép. Ngoài ra, khi internet phát triển nhanh chóng thì đây là nơi cung cấp nhiều thông tin hữu ích phục vụ cho việc đánh giá KQHT. Việc khai thác một cách hợp lý nguồn thông tin này sẽ làm cho việc ĐG KQHT đạt được hiệu quả hơn. Việc ứng dụng CNTT trong ĐG KQHT có các mức độ khác nhau, điều này phụ thuộc vào mục đích ĐG.
Đối với ĐG quá trình diễn ra trong lớp học thì vai trò của CNTT không thể hiện nhiều, thậm chí không ứng dụng. Đối với các ĐG tổng kết như các kỳ thi, các cuộc khảo sát, … thì CNTT là một trong những công cụ đắc lực để có những đánh giá khoa học và chính xác. Từ tổng quan những nghiên cứu trên, có thể rút ra kết luận: Các nhà nghiên cứu giáo dục học đều khẳng định tầm quan trọng của ĐG và đổi mới ĐG trong quá trình dạy học. Họ cho rằng, nếu ĐG được tiến hành có hệ thống, đồng bộ, khoa học với các phương pháp và kĩ thuật thích hợp sẽ có tác dụng tích cực, ĐG đúng KQHT toàn diện của HS, điều chỉnh và tạo động lực mới cho quá trình dạy học.
Hiện nay, trên thế giới việc ứng dụng CNTT trong KT-ĐG đã và đang phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng các phần mềm trong KT-ĐG KQHT của HS đang được các nước phát triển áp dụng và đạt hiệu quả cao. CNTT là một trong những công cụ đắc lực để có những đánh giá khoa học và chính xác đối với hoạt động KT -ĐG KQHT của HS. Những nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, đã có một số nghiên cứu trong lĩnh vực này như Dương Thiệu Tống với “Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập"[86], đã vận dụng phương pháp KT bằng TNKQ để ĐG KQHT của học sinh. Nhiều nhà giáo dục khác cũng có những công trình có giá trị: Trần Bá Hoành với “Đánh giá trong giáo dục"[30]; Lê Đức Ngọc với “Vắn tắt về đo lường và đánh giá thành quả học tập trong giáo dục đại học"[55]; Lâm Quang Thiệp với "Trắc nghiệm và ứng dụng"[77].
Các tác giả tiếp tục nghiên cứu toàn diện vấn đề ĐG và đổi mới ĐG, từ thống nhất khái niệm KT, ĐG, đo lường, chuẩn ĐG, đổi mới.đã đi sâu phân tích ưu điểm (và hạn chế) của việc đổi mới phương pháp KT bằng TNKQ. Ngoài ra còn một số tài liệu có tính chất chuyên khảo khác, như Nguyễn Phụng Hoàng, Võ Ngọc Lan với “Phương pháp trắc nghiệm trong kiểm tra và đánh giá thành quả học tập" [31]; Nguyễn Công Khanh với “Đánh giá đo lường trong khoa học xã hội: quy trình, kĩ thuật, thiết kế, thích nghi, chuẩn hoá công cụ đo" [36]; Nguyễn Xuân Nùng và Lâm Quang Thiệp "Trắc nghiệm và đo lường cơ bản trong giáo dục" [57]. đã phân tích ưu điểm, hạn chế của các phương pháp ĐG, đặc biệt là kĩ thuật xây dựng câu hỏi TN, đưa ra quy trình xây dựng và xử lý bộ công cụ KT một số môn học. Trần Kiều [40] cho rằng: "Kiểm tra, đánh giá là khâu cuối cùng song cũng có thể là bước khởi đầu cho chu trình tiếp theo với một chất lượng mới hơn của cả quá trình.
Do đó đánh giá không chỉ nhằm mục đích phân loại, sàng lọc, cũng không chỉ nhằm phát hiện kết quả mà còn phải tìm ra được nguyên nhân đa dạng của một thực trạng nào đó. Vì vậy, đổi mới kiểm tra, đánh giá là cần thiết và có ý nghĩa". Từ cuối thập kỉ 90 của thế kỉ XX ở nước ta, hoạt động đổi mới ĐG được chú ý nhiều hơn. Các trung tâm ĐG ra đời ở các Viện nghiên cứu và một số trường Đại học, Cục khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục của Bộ GD & ĐT được thành lập.
Nhiều công trình lý luận chung về ĐG, đặc biệt là phương pháp và kĩ thuật ĐG được nghiên cứu và bước đầu áp dụng ở tất cả các cấp học của hệ thống giáo dục phổ thông. 11 Hiện nay, vấn đề tự KT-ĐG cũng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, vận dụng ở nhiều phương diện và mức độ khác nhau.