phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng. Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu Chương 2. Biện pháp vận dụng dạy học Khám phá vào nội dung giải bài toán có yếu tố thực tiễn trong môn Toán lớp 3 Chương 3. Thực nghiệm sƣ phạm 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
Các khái niệm chủ yếu 1. Khám phá Theo nhà nghiên cứu Hoàng Phê, thì Khám phá chính là quá trình phát hiện, tìm ra cái còn ẩn giấu, cái bí mật ở bên trong sự vật hiện tƣợng [18]. Tác giả Trịnh Văn Biều cũng cho rằng: “Khám phá là việc tìm ra những gì đã tồn tại trong tự nhiên hoặc xã hội nhưng chưa được thừa nhận một cách khách quan, nhờ đó làm thay đổi cơ bản nhận thức con người.” [4, tr14] Nhƣ vậy, thuật ngữ khám phá biểu thị hành động phát hiện hoặc phát hiện ra thứ gì đó lần đầu tiên, tuy đã tồn tại nhƣng trƣớc đây không đƣợc công nhận là có liên quan. Theo Trần Đình Châu - Nguyễn Văn Hiến (2010) thì: “Khám phá là hoạt động tìm tòi có thể có chủ đích hoặc không có chủ đích của con người đối với một sự vật, hiện tượng trong tự nhiên hoặc xã hội để tăng khả năng nhận thức đối với sự vật, hiện tượng đó.”[5, tr8] Đây là cách tiếp cận định nghĩa “Khám phá” theo định hƣớng giáo dục, cũng là cách tiếp cận mà tác giả hƣớng đến trong nghiên cứu này.
Từ góc độ tiếp cận và nghiên cứu của luận văn, chúng tôi đƣa ra khái niệm: Khám phá là hoạt động của con người nhằm tìm ra, phát hiện ra cái còn ẩn giấu của sự vật, hiện tượng mà trước đó chưa được phát hiện, chưa được thừa nhận. Thông qua kết quả khám phá, sẽ làm tăng khả năng nhận thức của con người đối với sự vật, hiện tượng được khám phá. Học tập khám phá (Discovery-based Learning) Đây là quá trình hoạt động học học tập theo hình thức tự tìm hiểu và tƣơng tác với thế giới xung quanh. Phƣơng pháp học tập khám phá đƣợc hình thành và phát triển lý thuyết bởi nhà tâm lý học ngƣời Mỹ Jerome Bruner từ 9 những năm 1960.
Hiện nay, có một số nhà nghiên cứu giáo dục đã đƣa ra định nghĩa khác nhau về học tập khám phá. Jean Marie Petitclerc và cộng sự (2017) cho rằng: “Học tập khám phá là một dạng học tập mà ở đó, những học sinh học cách nhận ra vấn đề, mô tả biện pháp sẽ như thế nào, tìm kiếm thông tin có liên quan, phát triển và thực hiện chiến lược được lựa chọn để giải quyết vấn đề đó.”[25, tr19] Phan Trọng Ngọ, (2002) định nghĩa: “Học tập khám phá là một phương pháp học tập trong đó con người là một đối tượng nghiên cứu tích cực, nghĩa là cá nhân thay vì nhận hướng dẫn và nội dung, phải tự mình khám phá mối liên hệ và mối quan hệ giữa các khái niệm và điều chỉnh chúng theo sơ đồ nhận thức của mình.”[15] Trên cơ sở tiếp thu các quan điểm của các học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc, chúng tôi quan niệm: Học tập khám phá là một phương pháp học tập mà hoạt động của học sinh gắn liền với thực hành, tìm tòi khám phá vấn đề dựa trên kinh nghiệm và kiến thức có sẵn trong quá khứ, sử dụng trực giác, trí tưởng tượng và sáng tạo của mình, tìm kiếm các thông tin mới để khám phá sự thật, giải đáp thông tin, nội dung bài học. Trong học tập khám phá, học sinh tích cực, chủ động kiến tạo kiến thức cho bản thân qua kinh nghiệm vốn có và qua tương tác với môi trường học tập. Các hoạt động tìm hiểu tri thức trong hoạt động học tập khám phá đƣợc tiến hành việc học sinh hành động hoặc quan sát có định hƣớng, tập trung vào giải quyết vấn đề đặt ra.
Thông qua đó mà tích luỹ đƣợc kiến thức, kỹ năng mới hoặc tìm hiểu sâu hơn về những tri thức đã đƣợc hình thành, rèn luyện thuần thục hơn các kỹ năng vốn có. Đối với hoạt động dạy học truyền thống, hoạt động của GV chủ yếu là tập trung vào việc truyền đạt đầy đủ những kiến thức vốn có trong sách giáo khoa và chƣơng trình học. Chính vì vậy hoạt động học tập khám phá ít đƣợc quan tâm và thƣờng diễn ra một cách tự phát. Tuy nhiên, khi phƣơng pháp dạy học tích cực ra đời, hoạt động khám phá của học sinh ngày càng đƣợc vận dụng vào trong thực tiễn các buổi học, kể cả trong các tiết học lý thuyết lẫn thực hành.
10 Những hoạt động đƣợc xếp vào hoạt động khám phá bằng các biện pháp của giáo viên nhƣ: phát phiếu học tập, đƣa ra các dạng câu hỏi, các dạng bài tập mở,. yêu cầu HS phải tự giác tác động vào đối tƣợng, và bừng các thao tác phân tích, quan sát, so sánh, tổng hợp để thông qua đó HS khám phá ra đƣợc những tri thức mới, kỹ năng mới, theo đó, trong quan niệm dạy học khám phá thì HS trở thành chủ thể chính của hoạt động giáo dục, HS phải học chủ động, không thể học một cách thụ động bằng việc nghe thầy giảng và truyền đạt kiến thức. Học sinh học tích cực bằng những hành động chiếm lĩnh tri thức đã để tạo ra tri thức mới cho chính mình. Những hoạt động này đƣợc thực hiện rất đa dạng và linh hoạt, có thể thực hiện chung trong cả lớp, có thể đƣợc thực hiện theo từng tổ, các nhóm nhỏ hoặc thực hiện những khâu trong quá trình học tập để củng cố kiến thức, hoặc từng nhóm cá nhân khi chuẩn bị và làm bài tập ở nhà.
Trên cơ sở mức độ khám phá tri thức của HS, hoạt động học tập khám phá có thể chia thành 3 mức độ khác nhau theo cấp độ tăng dần. - Trƣớc hết là hoạt động học tập có tính bắt chƣớc: Trong hoạt động này, HS thực hiện những thao tác căn bản, đó chính là lặp lại những kiến thức, những điều mà GV đã giảng dạy và hƣớng dẫn chi tiết. - Hai là, ở cấp độ cao hơn, có tính luyện tập: Lúc này, khi thực hiện nhiệm vụ học tập, HS phải sử dụng những kỹ năng dã đƣợc trang bị để vận dụng vào giải quyết vấn đề đặt ra. - Ba là, có tính nghiên cứu: HS thu nhận đƣợc những kiến thức hoàn toàn mới bằng hành động của chính mình nhƣ: Tự lực, độc lập, quan sát, làm thí nghiệm, thực hành,.
Dạy học khám phá Theo quan điểm của các tác giả Trần Đình Châu - Nguyễn Văn Hiến (2010) thì dạy học khám phá là: “Phương pháp dạy học trong đó dưới sự hướng dẫn của GV, thông qua các hoạt động, HS khám phá ra một tri thức nào đấy trong chương trình môn học.”[5, tr12] Đối với hình thức dạy học khám phá, ngƣời GV phải thực sự đầu tƣ 11 công sức rất nhiều mới có thể đáp ứng yêu cầu đề ra. Trong đó trọng tâm là việc hƣớng dẫn và tổ chức các hoạt động nhận thức cho học sinh. Cụ thể: - Hoạt động của GV: Lựa chọn nội dung kiến thức bảo đảm tính vừa sức đối với HS, định hƣớng phát triển tƣ duy cho HS theo nội dung kiến thức lựa chọn đồng thời tổ chức cho HS thảo luận theo nhóm trên lớp, hƣớng dẫn HS sử dụng và lựa chọn các công cụ hỗ trợ cần thiết, nhất là các phƣơng tiện trực quan, tạo ra môi trƣờng học tập thuận tiện nhất để HS tự giải quyết vấn đề. - Hoạt động của HS: Trên cơ sở vốn sống, kinh nghiệm và tri thức vốn có của bản thân cũng nhƣ thông qua các hoạt động phối hợp với bạn bè trong học tập đã hình thành nên những kiến thức có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học.
GV chốt lại các ý chính, nhận xét ý kiến của HS để từ đó làm cơ sở tự điều chỉnh, tự kiểm tra kiến thức. Động lực của quá trình dạy học đó chính là việc trực tiếp kích thích lòng đam mê, ham học hỏi của HS. Hoạt động tìm ra tri thức mới phải là quá trình khám phá thực sự mới tạo nên động lực thực chất của việc học. Đó cũng chính là quá trình nhận thức độc đáo.
HS có khả năng tự điều chỉnh nhận thức để tạo nên sự linh hoạt trong tƣ duy và năng lực tự học. Đây chính là nhân tố quyết định đến sự phát triển toàn diện của mỗi HS. Kết quả của việc dạy học khám phá không chỉ đem đến lợi ích thiết thực về mặt tinh thần cho cả GV và HS mà còn là nền tảng để những yếu tố mới có cơ hội đƣợc ƣơm mầm sinh sôi nảy nở. Chính vì vậy, bản chất của quá trình dạy học khám phá là sự tìm kiếm, khám phá tri thức khoa học và chuẩn mực xã hội.
Sviniki (1998), có ba đặc điểm chính của dạy học khám phá: Thứ nhất là học tập tích cực, thứ hai học tập có ý, cuối cùng là thay đổi thái độ và niềm tin. Trong đó: - Học tập tích cực: Là ngƣời học tham gia vào quá trình học tập với một thái độ tích cực, việc tiếp thu kiến thức hoàn toàn mang tính chủ động chứ không phải là sự 12 thụ động từ những lời giảng của GV. Khi HS sẽ tập trung chú ý trong quá trình học tập của mình vì thái độ học tập mang tính tích cực. Ngƣợc lại, nếu nhƣ chủ quan lơ là, thì quá trình học tập sẽ không xảy ra và không đạt hiệu quả.
Trong quá trình học tập, những tƣ tƣởng, nội dung then chốt đƣợc HS chú ý. Các hoạt động đƣợc thiết kế với mục đích để làm rõ một quy trình, một khái niệm chứ không đơn thuần chỉ vì để hoạt động tích cực. Giai đoạn đầu tiên của quá trình học tập là việc phát hiện ra cái cần đƣợc học và học sinh đƣợc thu hút vào những hoạt động đó. Để kiến tạo nên những lời giải, những kiến thức mới thì cần phải tham gia tích cực vào quá trình học tập.
Từ đó, HS có điều kiện thực hiện các quá trình xử lý thông tin một cách toàn diện hơn. Quá trình học tập khám phá, HS thƣờng dựa vào tri thức trƣớc đó để đáp ứng những yêu cầu trong các hoạt động. Các em phải trải qua một quá trình xử lý thông tin, tài liệu. Quá trình này sẽ giúp các em thuận lợi về sau khi cần vì nó đã có sự gắn kết chặt chẽ với những tri thức mà các em đã đƣợc trang bị.
Học tập khám phá tạo điều kiện cho HS có cơ hội để đƣợc phản hồi sớm việc nắm kiến thức của mình.