ĐẶT VẤN ĐỀ Thai trứng là một bệnh lý lành tính đặc trƣng bởi sự tăng sinh quá mức của các nguyên bào nuôi, làm cho các mạch máu cũng nhƣ mô liên kết không phát triển kịp. Kết quả là các nguyên bào nuôi phù nề, thoái hóa nƣớc và cho hình ảnh giống nhƣ các bọc trứng [1]. Tùy thuộc vào từng dân số cụ thể mà tỉ lệ mắc thai trứng thay đổi khá nhiều, hơn nữa các đặc điểm về lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh lý cũng nhƣ diễn tiến sau hút nạo thai trứng cũng không giống nhau giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ. Theo báo cáo từ dữ liệu quốc gia tại Anh, tỉ lệ thai trứng toàn phần vào khoảng 1/1000 đến 3/1000 thai kỳ, tỉ lệ thai trứng bán phần vào khoảng 3/1000 thai kỳ [81].
Tại Nhật Bản, tần suất mắc thai trứng dao động khoảng 1,61/1000 đến 2,79/1000 thai kỳ, cụ thể tỉ lệ thai trứng toàn phần và thai trứng bán phần lần lƣợt là 0,49/1000 và 1,16/1000 thai kỳ [66]. Các nghiên cứu cũng cho thấy tỉ lệ mắc thai trứng ở dân số châu Á cao hơn so với Bắc Mỹ hoặc châu Âu [61]. Việt Nam là một nƣớc nằm trong vùng dịch tễ cao mắc thai trứng. Theo nghiên cứu của Viện Bảo vệ Bà mẹ và Trẻ sơ sinh Hà Nội năm 1998, tỉ lệ thai trứng vào khoảng 1/500 trƣờng hợp sinh [2].
Bệnh viện Từ Dũ là một trung tâm rất lớn tiếp nhận và quản lí các bệnh nhân thai trứng không chỉ ở TPHCM mà còn mở rộng cho các tỉnh thành phía nam của đất nƣớc. Theo các thống kê nội bộ, hàng năm tại bệnh viện Từ Dũ tiếp nhận 800 - 1000 trƣờng hợp thai trứng mới nhập viện để điều trị và theo dõi. Nhƣ đã trình bày, thai trứng là một bệnh lý lành tính, tuy nhiên kèm theo từng yếu tố nguy cơ cụ thể, các bệnh nhân này có thể tiến triển xấu hơn thành dạng bệnh lý ác tính, trực tiếp đe dọa đến cuộc sống và sinh mạng ngƣời bệnh. Hiện nay, thai trứng đƣợc quản lí chính yếu bằng phƣơng pháp hút nạo buồng tử cung, theo sau đó là một quá trình theo dõi chặt chẽ diễn tiến của βhCG cũng nhƣ triệu chứng lâm sàng, và đây cũng là phƣơng pháp duy nhất để chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời các trƣờng hợp tiến triển xấu thành tân sinh nguyên bào nuôi.
Việt Nam thuộc vùng dịch tễ cao mắc thai trứng, với các trung tâm rất lớn tiếp nhận và quản lí thai. 2 trứng, tuy nhiên chúng ta lại không có nhiều dữ liệu hệ thống, chính xác về diễn tiến của bệnh lý này, đặc biệt là diễn tiến của nồng độ βhCG sau khi hút nạo, thời gian βhCG trở về âm tính và diễn tiến tiếp sau đó trong quá trình theo dõi ở các nhóm thai trứng toàn phần hay thai trứng bán phần. Hầu hết các nghiên cứu về thai trứng tại Việt Nam cho tới thời điểm hiện tại đều tập trung vào vấn đề tiên lƣợng, chẩn đoán và điều trị tân sinh nguyên bào nuôi trên một nhóm đối tƣợng cụ thể của thai trứng, nhƣ nghiên cứu “Vai trò của βhCG sau hút nạo thai trứng toàn phần trong tiên lƣợng sớm bệnh nguyên bào nuôi tồn tại” của tác giả Nguyễn Vũ Hà Phúc năm 2014 (cỡ mẫu n = 131) [6], “Kết quả của hóa dự phòng ở bệnh nhân thai trứng nguy cơ cao ở bệnh viện Từ Dũ” của tác giả Trần Nhật Huy năm 2014 (56 ca bệnh và 112 ca đối chứng) [5], “Vai trò của nồng độ βhCG sau hút nạo 2 tuần trong tiên đoán tân sinh nguyên bào nuôi hậu thai trứng” của tác giả Lê Xuân Tiên năm 2018 (123 ca bệnh và 247 ca đối chứng) [8],… và một số nghiên cứu về thai trứng của tác giả Phạm Huy Hiền Hào ở khu vực miền Bắc. Trong khi đó, chúng ta vẫn đang dựa vào dữ liệu từ các nghiên cứu, báo cáo thực hiện tại các quốc gia phát triển, nơi mà thai trứng có tỉ lệ thấp hơn rất nhiều, hơn nữa, các dữ liệu này chủ yếu đƣợc ghi nhận vào những năm 1980-2000.
Việc có đƣợc diễn tiến cụ thể của βhCG sau hút nạo thai trứng theo các hình thái lâm sàng nhƣ thai trứng toàn phần - thai trứng bán phần, thai trứng lui bệnh hay tiến triển tân sinh nguyên bào nuôi không những cung cấp một cái nhìn đầy đủ về quá trình diễn tiến βhCG hậu thai trứng, cũng nhƣ bệnh lý thai trứng sau hút nạo tại Việt Nam, hỗ trợ quá trình theo dõi và chẩn đoán sớm bệnh tân sinh nguyên bào nuôi dựa vào biểu đồ đƣợc xây dựng, mà thông qua đó sẽ còn giúp cho các nghiên cứu sâu hơn về thai trứng ở tại Việt Nam và khu vực thêm thuận lợi và dễ dàng. Đây chính là lí do chúng tôi thực hiện nghiên cứu này, với câu hỏi nghiên cứu: “Nồng độ βhCG sau hút nạo thai trứng diễn tiến nhƣ thế nào theo các hình thái lâm sàng của bệnh lý nguyên bào nuôi?”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả diễn tiến của nồng độ βhCG sau hút nạo thai trứng theo các hình thái lâm sàng của bệnh lý nguyên bào nuôi thai kỳ.
Xác định tần suất thai trứng tiến triển thành tân sinh nguyên bào nuôi sau hút nạo và các yếu tố liên quan. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương Bệnh nguyên bào nuôi thai kỳ là một loại bệnh lý phụ khoa có khả năng tiến triển thành ác tính, tuy nhiên dù tiến triển ác tính thì tỉ lệ đƣợc chữa khỏi vẫn rất cao, nhờ vào khả năng phát hiện bệnh sớm, liệu pháp hóa trị hiệu quả cũng nhƣ khả năng đánh giá tƣơng đối chính xác tình trạng bệnh thông qua xét nghiệm định lƣợng βhCG với độ nhạy khá cao [61]. Bệnh lý này bao gồm nhiều dạng thức khác nhau, với mức độ tăng sinh bất thƣờng của nguyên bào nuôi thay đổi từ lành tính tới ác tính kèm xu hƣớng xâm lấn tại chỗ và di căn xa.
Từ trƣớc tới nay, có khá nhiều hệ thống phân loại và thuật ngữ xung quanh BNBNTK, gây nên không ít sự lúng túng, nhầm lẫn, khiến cho sự thông hiểu và diễn giải bệnh lý này trở nên phức tạp. Vào năm 2000, sau khi kết hợp với Hệ thống phân điểm tiên lƣợng của WHO, FIGO đã cho ra đời bảng phân loại BNBNTK mới, giúp chuẩn hóa phƣơng pháp diễn giải và đánh giá bệnh lý này [37]. Theo đó, BNBNTK đƣợc phân loại theo bảng phân loại của WHO, dựa trên các đặc điểm lâm sàng, mô học, tế bào học. Các dạng khác nhau của BNBNTK bao gồm thai trứng (gồm thai trứng toàn phần và thai trứng bán phần) và tân sinh nguyên bào nuôi thai kỳ (gồm thai trứng xâm lấn, ung thƣ nguyên bào nuôi thai kỳ, u nguyên bào nuôi nơi nhau bám và u nguyên bào nuôi dạng biểu mô) [61].
BNBNTK đƣợc chẩn đoán dựa trên lâm sàng, xét nghiệm cận lâm sàng kèm tiêu chuẩn giải phẫu bệnh, cùng với phác đồ điều trị cụ thể và theo dõi chặt chẽ, bởi một khi diễn tiến ác tính, những khối u này thƣờng có khuynh hƣớng xâm lấn và di căn. Định nghĩa Thai trứng là kết quả từ sự phát triển bất thƣờng của các gai nhau. Nguyên bào nuôi tăng sinh nhanh quá mức, khiến cho mô liên kết và mạch máu trong lõi gai nhau không phát triển theo kịp, kèm với sự phù nề mô đệm, tạo thành các bọc nƣớc có kích thƣớc từ 1 đến vài chục milimet [1]. Đại thể thai trứng toàn phần Nguồn: Williams Gynecology 2016, 3rd edition, pp.
Dịch tễ học Số liệu từ nhiều nghiên cứu dịch tễ học đã cho thấy sự dao động khá lớn về tần suất thai trứng giữa các khu vực trên thế giới. Cụ thể hơn, dựa trên các nghiên cứu dịch tễ, tỉ lệ mắc thai trứng dao động khá lớn, từ dƣới 1/1000 thai kỳ ở Hoa Kì đến khoảng 10/1000 thai kỳ ở Indonesia; tỉ lệ này cao nhất là ở khu vực châu Á, châu Phi, châu Mỹ La tinh và thấp nhất ở châu Âu, châu Úc, Hoa Kì [21]. Vì nhiều nguyên nhân khác nhau, nhƣ dữ liệu từ các trung tâm y tế và dữ liệu thu thập từ dân số không đồng nhất [56][66], tần suất mắc bệnh thấp, sự khác biệt trong chính sách và thực hành y tế của từng quốc gia cũng nhƣ một số khó khăn khi thực hiện giải phẫu bệnh, việc ƣớc tính tần suất mắc thai trứng có thể không chính xác [61]. Tỉ lệ thai trứng ƣớc tính từ các nghiên cứu ở châu Âu, Bắc Mỹ, châu Úc và New Zealand dao động từ 0,57 - 1,1/1000 thai kỳ, trong khi các nghiên cứu ở Đông Nam Á và Nhật Bản báo cáo tỉ lệ khá cao, khoảng 2/1000 thai kỳ [61].
Ngoài ra, những nhóm dân số nhƣ Thổ dân châu Mỹ, ngƣời Mỹ gốc Phi, ngƣời Mỹ gốc Tây Ban Nha và Latinh hay ngƣời Eskimo cũng đƣợc cho là có nguy cơ cao mắc thai trứng. Điều này có lẽ là do sự khác biệt về chủng tộc, đặc điểm di truyền, yếu tố văn hóa, đặc điểm môi trƣờng địa lí và điều kiện kinh tế xã hội. 6 Ở Việt Nam, tỉ lệ thai trứng vào khoảng 1/500 trƣờng hợp sinh (năm 1998) [2], cụ thể ở TPHCM, tỉ lệ này khoảng 1,52/1000 thai kỳ (năm 1996) [7]. Yếu tố nguy cơ 1.
Tuổi mẹ Càng ở hai đầu của độ tuổi sinh sản (dƣới 16 tuổi và trên 35 tuổi), nguy cơ mắc thai trứng càng tăng lên [12][62], và đƣờng biểu diễn tần suất thai trứng theo tuổi mẹ có dạng nhƣ hình chữ J [78]. Độ tuổi thiếu niên làm gia tăng nguy cơ mắc thai trứng từ 1,5 đến 2 lần. Theo thời gian, nguy cơ thai trứng cũng bắt đầu tăng khi tuổi mẹ lớn hơn 35. Cụ thể, sau 35 tuổi, nguy cơ thai trứng tăng lên 2 lần; sau 40 tuổi, nguy cơ này tăng lên gấp 5-10 lần [61], và tiếp tục tăng cao sau đó.
Nguyên nhân có thể là do quá trình tạo giao tử và thụ tinh bất thƣờng. Nguy cơ giữa thai trứng và tuổi mẹ thể hiện rõ nét ở thai trứng toàn phần, trong khi với thai trứng bán phần, các nghiên cứu không tìm thấy sự liên quan, hoặc là nguy cơ gia tăng rất nhỏ. Tiền sử thai trứng Tiền sử bị thai trứng cũng là yếu tố đáng ngại, làm tăng nguy cơ mắc thai trứng ở các thai kỳ sau đó lên khoảng 5 - 40 lần so với dân số chung [42][79]. Tiền sử thai trứng 1 lần, nguy cơ bị thai trứng ở thai kỳ kế tiếp là 1%, tiền sử thai trứng từ 2 lần trở lên, nguy cơ này tăng lên 25% [82].
Nguy cơ mắc thai trứng không bị ảnh hƣởng khi ngƣời phụ nữ thay đổi bạn tình.