phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo nội dung luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài. Biện pháp tổ chức dạy học tác phẩm Nam Cao và Kim Lân trong nhà trường THPT theo hướng tiếp cận văn hóa Chƣơng 3. Thực nghiệm sư phạm 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Khái niệm văn hóa và dạy học văn chương theo hướng tiếp cận văn hóa 1. Khái niệm văn hóa Thuật ngữ “văn hóa” bắt nguồn từ châu Âu: “culture” (Pháp, Anh), “Kultur” (Đức), gốc của các từ này lại bắt nguồn từ chữ La tinh “Cultus”, có nghĩa nguyên là trồng trọt và nông nghiệp. Từ này cũng đƣợc hiểu theo hai nghĩa: nghĩa gốc mang tính vật chất cụ thể là trồng trọt cây cối, nghĩa bóng mang tính trừu tƣợng, về mặt tinh thần đó là sự tự giáo dục, bồi dƣỡng tâm hồn con ngƣời. Nhƣ vậy, “văn hóa” gắn liền với việc giáo dục, đào tạo một con ngƣời hay một tập thể ngƣời để cho họ có đƣợc phẩm chất tốt đẹp, cần thiết cho cộng đồng.
Văn hóa không phải là một cái gì vốn có tự thân mà là quá trình tiếp nhận giáo dục và lao động sáng tạo của con ngƣời. “Văn hóa là của con ngƣời, do con ngƣời và cho con ngƣời nên văn hóa gắn với cách nghĩ, cách nói, cách làm của con ngƣời mang tính xã hội mà bản chất của con ngƣời này là con ngƣời sáng tạo, đối lập với con ngƣời tự nhiên chỉ biết thừa hƣởng một cách sinh vật mọi thứ từ tự nhiên. Chỉ khi con ngƣời tự nhiên chuyển sang con ngƣời xã hội thì lúc đó mới xuất hiện văn hóa”. Nói nhƣ Khổng Tử - nhà hiền triết Trung Hoa cổ đại thì văn hóa là cái hậu thiên chứ không phải cái tiên thiên.
Theo các tài liệu nghiên cứu về văn hóa, trên thế giới hiện nay có đến gần 500 định nghĩa về văn hóa. Ở phƣơng Đông, Khổng Tử trong sách Chu Dịch và Lƣu Hán đời Tây Hƣớng đều từng quan niệm văn hóa là biến cải, biến đổi, bồi đắp theo chiều hƣớng của cái đẹp. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở phƣơng Tây, định nghĩa đầu tiên của nhà nhân loại học ngƣời Anh: “Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng nhất của nó là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngƣỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và những khả năng tập quán khác mà con ngƣời có đƣợc với tƣ cách thành viên của xã hội”. Theo giáo sƣ Trần Quốc Vƣợng, nhiều học giả Mỹ cho rằng “Văn hóa là tấm gƣơng nhiều mặt phản chiếu đời sống, nếp sống của một cộng đồng, dân tộc”.T, Taylor, một đại biểu của nhân học và văn hóa học phƣơng Tây đã từng xác định: “Văn hóa, hiểu theo nghĩa rộng nhất của nó, là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngƣỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục cùng những khả năng và tập quán khác mà con ngƣời có đƣợc với tƣ cách là một thành viên của xã hội”.
Cách hiểu về văn hóa của phƣơng của phƣơng Đông hay phƣơng Tây tuy có sự khác nhau nhƣng đều phản phản ánh tính giá trị, thƣớc đo mức độ nhân bản của xã hội và con ngƣời, làm cho con ngƣời và xã hội ngày càng tiến bộ hơn, ngày càng rời xa trạng thái nguyên sơ, khẳng định tính ngƣời. UNESCO, tổ chức văn hóa lớn của thế giới cũng đã đƣa ra định nghĩa của mình về văn hóa cả trong nghĩa rộng lẫn nghĩa hẹp.Theo tổ chức này, “trong nghĩa rộng nhất, văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm ngƣời trong xã hội”. Trên cơ sở phân tích các định nghĩa văn hóa, PGS. TS Trần Ngọc Thêm đã đƣa ra một định nghĩa văn hóa nhƣ sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tƣơng tác giữa con ngƣời với môi trƣờng tự nhiên và xã hội của mình”.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Rõ ràng khái niệm văn hóa đã đƣợc nghiên cứu tiếp nhận theo nhiều góc nhìn, nhiều cách hiểu khác nhau. Có thể nhận ra nội hàm khái niệm văn hóa bao gồm những nội dung sau: Văn hóa là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo ra, phục vụ con ngƣời trong quá trình ứng xử với môi trƣờng tự nhiên và xã hội, nhờ con ngƣời mà lƣu trữ, truyền tải từ thế hệ này sang thế hệ khác; nó phải mang thuộc tính giá trị và đọng lại thành cách ứng xử; văn hóa là hoạt động mang tính biểu tƣợng, biểu tƣợng chính là “hạt nhân” của văn hóa, là hình thái biểu hiện của văn hóa; những hành động, những thành tựu và giá trị phải kết tinh thành bản sắc để qua đó giúp ta phân biệt đƣợc dân tộc và nhân loại; văn hóa là hệ thống gồm nhiều thành tố, trong đó có văn học. Các thuộc tính và thành tố cơ bản của văn hóa Tính hệ thống với các nội dung của văn hóa Đây là một thuộc tính quan trọng của văn hóa. Nói đến hệ thống bao giờ ngƣời ta cũng nghĩ đến một tổ hợp hữu cơ bao gồm nhiều thành tố có quan hệ khăng khít với nhau, tƣơng tác và chi phối lẫn nhau.
Ba nội dung cơ bản của văn hóa là: Văn hóa nhận thức; Văn hóa ứng xử; Văn hóa tổ chức. Chúng kết hợp với nhau nhƣ một thể thống nhất hữu cơ. Ba nội dung của văn hóa cũng là ba mặt hoạt động cơ bản trong các thiết chế xã hội của loài ngƣời. Trong các nội dung này, văn hóa nhận thức đóng vai trò chi phối chế ƣớc tất cả, chẳng những thế, văn hóa còn tạo nên sự gắn kết cộng đồng, điều chỉnh cách thức tổ chức xã hội, cách thức ứng xử thích hợp nhất với môi trƣờng tự nhiên và xã hội.
Tính giá trị với các chức năng điều chỉnh xã hội Các giá trị của văn hóa theo mục đích có thể chia thành hai loại: giá trị vật chất nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất của con ngƣời, giá trị tinh thần nhằm 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thỏa mãn nhu cầu tinh thần của con ngƣời. Dù là vật chất hay tinh thần cũng là con ngƣời qua lao động mà sản sinh ra. Theo nghĩa này, văn hóa đƣợc xem nhƣ một dạng hoạt động của con ngƣời và chỉ có ở con ngƣời, tuy nhiên cần phải hiểu rằng không phải bất cứ hoạt động sáng tạo nào cũng làm nên giá trị văn hóa. Hoạt động lao động sáng tạo nào mang lại lợi ích cho con ngƣời mới đƣợc coi là hoạt động có giá trị văn hóa, còn hoạt động lao động sáng tạo nhƣng không mang lại lợi ích cho con ngƣời thì không đƣợc coi là giá trị văn hóa (ví dụ chế tạo vũ khí hạt nhân, các vũ khí tối tân…là những hoạt động sáng tạo nhƣng khó có thể coi là hoạt động có giá trị văn hóa).
Tính giá trị của văn hóa cũng mang tính tƣơng đối, bởi theo thời gian có thể phân chia thành: giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời. Theo quan điểm đó cùng với lợi ích sử dụng: những cái mặt này đƣợc coi là giá trị, mặt khác lại không đƣợc coi là giá trị. Căn cứ vào thang giá trị mà xã hội thƣờng xuyên xem xét điều chỉnh để không ngừng hoàn thiện mình. Nhƣ thế văn hóa đã thực hiện một chức năng quan trọng là điều chỉnh xã hội.
Từ việc điều chỉnh xã hội, văn hóa có chức năng bộ phận là định hƣớng các chuẩn mực, điều chỉnh các hành vi ứng xử của xã hội cũng nhƣ của con ngƣời. Làm đƣợc điều này, văn hóa đã thực sự trở thành động lực cho sự phát triển xã hội, vì vậy Uỷ ban văn hóa Thế giới UNESCO đã khẳng định: “Văn hóa giữ vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết của sự phát triển xã hội”. Tính lịch sử và chức năng giáo dục Đây là thuộc tính hàng đầu và mang tính chất bao trùm của văn hóa. Một nền văn hóa bao giờ cũng đƣợc hình thành trong một quá trình tích lũy qua nhiều thế hệ và thƣờng xuyên tự điều chỉnh, tiến hành phân bố, phân loại các giá trị và sáng tạo ra các giá trị mới.
Cái đó tạo nên truyền thống văn hóa. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Truyền thống văn hóa là những giá trị văn hóa tƣơng đối ổn định thể hiện những khuôn mẫu xã hội, đƣợc tích lũy và tái tạo trong cộng đồng ngƣời qua không gian và thời gian, kết tinh ở phép lệ làng, các tín điều luân lí, các chuẩn mực giá trị, phong tục tập quán, lễ nghi luật pháp… Một truyền thống văn hóa mất đi phải chờ mấy thế hệ mới xây dựng lại đƣợc, bởi vậy truyền thống văn hóa tồn tại đƣợc là nhờ giáo dục và giáo dục một cách thƣờng xuyên liên tục và bằng nhiều biện pháp khác nhau (văn hóa không chỉ giáo dục con ngƣời bằng những giá trị truyền thống đã có mà còn bằng những giá trị đang hình thành và sẽ hình thành). Phải giáo dục con ngƣời về văn hóa cả con đƣờng hữu thức lẫn vô thức, từ khi mới chào đời đến khi trƣởng thành, giáo dục trực tiếp lẫn gián tiếp, giáo dục một cách đồng bộ cả nhà trƣờng- gia đình- xã hội. Vấn đề giáo dục con ngƣời bằng bằng truyền thống văn hóa là vô cũng quan trọng bởi nó có ảnh hƣởng đến giống nòi, dân tộc và đảm bảo tính kế tục của lịch sử.
Tính nhân bản và chức năng giao tiếp Văn hóa là hoạt động sáng tạo của con ngƣời. Văn hóa là cái tự nhiên đã đƣợc biến đổi dƣới sự tác động của con ngƣời. Nó là phần giao giữa tự nhiên với con ngƣời. Con ngƣời tác động vào tự nhiên, sáng tạo văn hóa chính là nhằm phục vụ lợi ích của con ngƣời.
Một nền văn hóa có sắc thái riêng in đậm dấu ấn dân tộc,nhƣng tất cả có một đặc điểm chung là vì con ngƣời và cuộc sống của con ngƣời. Nhờ đặc điểm chung đó mà văn hóa thực hiện đƣợc chức năng giao tiếp rộng rãi giữa con ngƣời với con ngƣời, giữa dân tộc này với dân tộc kia dù ngôn ngữ văn tự khác nhau, nhờ văn hóa, loài ngƣời vẫn có thể hiểu nhau, thông cảm với nhau… 1.