Tổng quan nghiên cứu

Dạy học tác phẩm văn học trung đại trong nhà trường phổ thông luôn là một thách thức lớn đối với giáo viên và học sinh. Trong chương trình Ngữ văn lớp 9, các đoạn trích từ kiệt tác 3254 câu thơ lục bát của đại thi hào Nguyễn Du chiếm một dung lượng đặc biệt quan trọng với 4 văn bản trọng tâm gồm Chị em Thúy Kiều, Cảnh ngày xuân, Kiều ở lầu Ngưng Bích và Mã Giám Sinh mua Kiều. Tuy nhiên, theo khảo sát thực tế, có tới 70% câu hỏi được giáo viên sử dụng trong giờ dạy vẫn dừng lại ở mức độ tái hiện thụ động, khiến không khí lớp học trầm lắng và triệt tiêu tính sáng tạo của người học. Khoảng cách về thời đại lịch sử, rào cản ngôn ngữ cổ cùng lối mòn truyền thụ một chiều theo kiểu thầy đọc trò chép đang là nguyên nhân chính làm giảm sút hứng thú học tập của học sinh trung học cơ sở.

Đề tài tập trung giải quyết vấn đề xây dựng và vận dụng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề trong quá trình giảng dạy các đoạn trích Truyện Kiều. Mục tiêu cụ thể là xác lập cơ sở khoa học, thiết lập quy trình sư phạm chuẩn mực và xây dựng hệ thống câu hỏi chuyên biệt nhằm kích thích tư duy phản biện, giúp học sinh chủ động chiếm lĩnh giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Phạm vi nghiên cứu được triển khai thực nghiệm tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn trong năm học 2011 - 2012 với đối tượng là học sinh lớp 9. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện rõ qua việc nâng cao hiệu quả giờ dạy, giúp gia tăng tỷ lệ học sinh đạt điểm khá giỏi từ 60% lên trên 85%, đồng thời cắt giảm hơn 50% các câu hỏi vụn vặt, hình thành năng lực cảm thụ văn học độc lập cho học sinh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên 2 trụ cột lý thuyết cơ bản là thuyết dạy học giải quyết vấn đề trong giáo dục hiện đại và lý thuyết tiếp nhận văn học trong nhà trường phổ thông. Dạy học giải quyết vấn đề bắt nguồn từ phương pháp đối thoại gợi mở của nhà triết học Socrates, phát triển qua các công trình của các nhà sư phạm trên thế giới và được vận dụng linh hoạt vào môn Văn bởi các chuyên gia đầu ngành. Luận văn kế thừa sâu sắc quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm, tôn trọng năng lực tiếp nhận cá thể của người học.

Khung lý thuyết của đề tài làm sáng tỏ 5 khái niệm then chốt: câu hỏi nêu vấn đề, tình huống có vấn đề, mâu thuẫn nhận thức, tiếp nhận văn học và đặc trưng thi pháp truyện thơ Nôm trung đại. Câu hỏi nêu vấn đề được định nghĩa là hệ thống cấu trúc ngôn ngữ diễn đạt yêu cầu nhận thức dựa trên mâu thuẫn nội tại của tác phẩm, buộc người học phải vận dụng tri thức nền tảng để tìm ra tri thức mới. Dựa trên thi pháp tác phẩm, nghiên cứu phân loại hệ thống thành 5 dạng câu hỏi chuyên biệt:

  • Câu hỏi mâu thuẫn: Khai thác sự bất tương xứng giữa nội dung và hình thức hoặc hành vi nhân vật.
  • Câu hỏi bất ngờ: Khai thác các yếu tố phá cách trong nhịp điệu, cấu trúc thơ.
  • Câu hỏi lựa chọn: Đặt học sinh trước các giả thuyết cảm thụ khác nhau.
  • Câu hỏi phản bác: Tạo không gian tranh luận để bảo vệ quan điểm thẩm mỹ đúng đắn.
  • Câu hỏi giả định: Đặt nhân vật hoặc chi tiết vào hoàn cảnh thử nghiệm nhận thức mới.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 3 kênh chính: văn bản sách giáo khoa Ngữ văn 9, hệ thống 61 câu hỏi trích xuất từ giáo án của giáo viên và 84 câu hỏi ghi nhận trực tiếp qua các giờ dự giờ thực tế. Nghiên cứu thực hiện khảo sát ý kiến chọn mẫu có chủ đích đối với 20 giáo viên Ngữ văn trung học cơ sở và tiến hành thực nghiệm sư phạm trên 82 học sinh lớp 9, chia thành 2 nhóm: lớp 9B thực nghiệm gồm 42 học sinh và lớp 9C đối chứng gồm 40 học sinh.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng được lựa chọn nhằm đảm bảo sự tương đồng tuyệt đối về trình độ học lực đầu vào giữa hai lớp, loại trừ các biến số gây nhiễu. Phương pháp phân tích dữ liệu bao gồm phân tích định tính nội dung văn bản và định lượng bằng thống kê toán học. Lý do lựa chọn kết hợp hai phương pháp này là nhằm đối chiếu chính xác mối tương quan giữa sự thay đổi loại câu hỏi với kết quả học tập của học sinh. Toàn bộ tiến trình nghiên cứu và thu thập dữ liệu được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 9/2011 đến tháng 5/2012.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực trạng cho thấy tình trạng lạm dụng câu hỏi tái hiện đang diễn ra phổ biến. Trong tổng số 20 giáo viên được điều tra, có tới 60% chỉ thỉnh thoảng sử dụng câu hỏi nêu vấn đề và 25% hoàn toàn hiểu sai bản chất khi đồng nhất câu hỏi nêu vấn đề với câu hỏi kiểm tra bài cũ. Thống kê số lượng câu hỏi trên lớp học cho thấy sự gia tăng đột biến và thiếu kiểm soát: đoạn trích Chị em Thúy Kiều có 26 câu hỏi trên lớp so với 6 câu trong sách giáo khoa; đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích có 24 câu hỏi trên lớp so với 3 câu trong sách giáo khoa. Đặc biệt, có đến 8 câu hỏi trong một tiết học chỉ đơn thuần yêu cầu học sinh đọc lại phần chú thích từ ngữ có sẵn.

Kết quả kiểm tra thực nghiệm sư phạm tại tiết 27 (Chị em Thúy Kiều) và tiết 36 (Kiều ở lầu Ngưng Bích) khẳng định tính ưu việt vượt trội của hệ thống câu hỏi mới:

  • Tỷ lệ học sinh đạt điểm giỏi từ 8 đến 10 điểm ở lớp thực nghiệm đạt 38,1%, cao hơn 20,6% so với lớp đối chứng chỉ đạt 17,5%.
  • Tỷ lệ học sinh đạt điểm khá từ 6,5 đến 7,9 điểm ở lớp thực nghiệm đạt 47,6%, trong khi lớp đối chứng đạt 42,5%.
  • Tỷ lệ học sinh đạt điểm trung bình và yếu ở lớp thực nghiệm giảm mạnh xuống còn 14,3%, trong đó điểm yếu chỉ chiếm 2,4%, thấp hơn nhiều so với mức 12,5% điểm yếu của lớp đối chứng.
  • Tỷ lệ học sinh chủ động giơ tay phát biểu và tham gia tranh luận nâng cao tăng vọt từ 25% lên 78% trong các giờ học áp dụng câu hỏi nêu vấn đề.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của thực trạng dạy học thụ động trước đây bắt nguồn từ tâm lý e ngại cháy giáo án của giáo viên và thói quen ỷ lại vào sách hướng dẫn giảng dạy. Việc giáo viên đưa ra từ 16 đến 26 câu hỏi vụn vặt trong một tiết 45 phút đã xé nhỏ cấu trúc chỉnh thể của văn bản nghệ thuật, biến giờ học văn thành buổi hỏi đáp tra cứu từ điển máy móc. Học sinh không có đủ thời gian 3 đến 5 phút để suy ngẫm sâu sắc về vẻ đẹp ngôn từ hay tâm lý nhân vật.

Khi so sánh với các nghiên cứu trước đây về lý luận dạy học văn, đề tài đã cụ thể hóa thành công các nguyên lý trừu tượng thành 5 kiểu câu hỏi gắn chặt với 3 giá trị cốt lõi của Truyện Kiều: bút pháp ước lệ tượng trưng, nghệ thuật tả cảnh ngụ tình và độc thoại nội tâm. Toàn bộ dữ liệu thực nghiệm có thể được mô tả trực quan thông qua biểu đồ cột kép thể hiện phân bố điểm số giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng, kết hợp bảng ma trận phân loại câu hỏi nhằm làm nổi bật sự chuyển dịch từ 70% câu hỏi tái hiện sang hệ thống câu hỏi tư duy bậc cao. Kết quả này chứng minh rằng học sinh lớp 9 hoàn toàn đủ năng lực tiếp nhận các tầng nghĩa triết lý sâu xa nếu được định hướng bằng hệ thống câu hỏi có tính mâu thuẫn thẩm mỹ.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm chuyển giao hiệu quả kết quả nghiên cứu vào thực tiễn giáo dục, 4 giải pháp hành động cụ thể được đề xuất:

  • Tái cấu trúc quy trình thiết kế giáo án giảng văn: Yêu cầu giáo viên tinh giản triệt để hệ thống câu hỏi đọc hiểu, cắt giảm tối thiểu 60% các câu hỏi tái hiện và chú thích từ ngữ; tập trung xây dựng từ 3 đến 4 câu hỏi nêu vấn đề trọng tâm cho mỗi tiết dạy. Chủ thể thực hiện là giáo viên trực tiếp đứng lớp, áp dụng ngay trong năm học hiện tại.
  • Tổ chức các khóa bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên đề: Đạt mục tiêu 100% giáo viên Ngữ văn cấp trung học cơ sở nắm vững kỹ thuật xây dựng 5 dạng câu hỏi nêu vấn đề qua 3 đợt tập huấn thực hành trong vòng 6 tháng. Chủ thể thực hiện là Phòng Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Tổ chuyên môn các nhà trường.
  • Xây dựng ngân hàng câu hỏi và tình huống có vấn đề chuẩn hóa: Biên soạn cẩm nang học liệu mở bao gồm hơn 100 câu hỏi nêu vấn đề mẫu cho toàn bộ 4 đoạn trích Truyện Kiều lớp 9, hoàn thành trong thời gian 90 ngày. Chủ thể thực hiện là nhóm giáo viên cốt cán bộ môn Ngữ văn.
  • Đổi mới phương thức kiểm tra đánh giá định kỳ: Điều chỉnh ma trận đề thi học kỳ và kiểm tra 1 tiết, nâng tỷ lệ câu hỏi đánh giá năng lực tư duy phản biện và sáng tạo lên mức tối thiểu 40% tổng số điểm. Chủ thể thực hiện là Ban giám hiệu nhà trường và Hội đồng bộ môn phổ thông từ học kỳ 1 năm học tới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn to lớn cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Giáo viên Ngữ văn cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông: Khai thác trực tiếp hệ thống câu hỏi mẫu cho 4 đoạn trích Truyện Kiều để làm mới giáo án giảng dạy, chuyển đổi phương pháp từ truyền thụ một chiều sang tổ chức hoạt động chiếm lĩnh tác phẩm hiệu quả trong 45 phút đứng lớp.
  • Sinh viên và học viên cao học chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn: Sử dụng tài liệu như một công trình tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu thực nghiệm sư phạm, hệ thống hóa cơ sở lý luận về dạy học nêu vấn đề và tiếp nhận văn học trung đại.
  • Cán bộ quản lý giáo dục và chuyên viên phụ trách bộ môn: Vận dụng các tiêu chí đánh giá câu hỏi hiệu quả và số liệu khảo sát thực trạng để làm căn cứ đổi mới hoạt động thanh tra, dự giờ và đánh giá chất lượng giờ dạy của giáo viên tại các cơ sở giáo dục.
  • Chuyên gia biên soạn chương trình và sách giáo khoa: Tham chiếu các phát hiện về sự bất cập của câu hỏi đọc hiểu hiện hành để tái thiết kế hệ thống câu hỏi sau bài học theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi nêu vấn đề khác gì so với câu hỏi tái hiện kiến thức thông thường? Câu hỏi tái hiện chỉ yêu cầu học sinh đọc lại hoặc ghi nhớ khoảng 80% dữ liệu có sẵn trong sách giáo khoa, ví dụ như liệt kê các chi tiết tả vẻ đẹp của Thúy Vân. Ngược lại, câu hỏi nêu vấn đề đặt ra mâu thuẫn nhận thức, buộc học sinh phân tích lý do tác giả miêu tả Vân trước Kiều sau dựa trên thủ pháp đòn bẩy nghệ thuật nhằm làm nổi bật chân dung mang tính cách số phận.

Làm thế nào để tạo ra tình huống có vấn đề hiệu quả khi dạy Truyện Kiều? Giáo viên cần khai thác khoảng 3 mâu thuẫn thẩm mỹ cốt lõi giữa quy ước văn học trung đại và cảm xúc con người thực tế. Điển hình như câu hỏi về việc Kiều nhớ Kim Trọng trước khi nhớ cha mẹ trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích, giúp học sinh vượt qua khuôn mẫu đạo đức phong kiến để thấu hiểu chiều sâu tâm lý qua 8 câu thơ độc thoại nội tâm.

Có nên sử dụng toàn bộ câu hỏi nêu vấn đề trong một tiết học 45 phút không? Không nên lạm dụng 100% câu hỏi nêu vấn đề vì sẽ khiến tiến trình giờ học bị quá tải và gây áp lực tâm lý nặng nề cho học sinh. Giáo viên cần phân bổ hợp lý khoảng 30% câu hỏi gợi mở, tái hiện để xây dựng dữ liệu nền tảng, sau đó tích hợp từ 3 đến 5 câu hỏi nêu vấn đề then chốt nhằm khai thác sâu 2 bình diện nội dung và nghệ thuật.

Học sinh có học lực trung bình hoặc yếu có thể trả lời được câu hỏi nêu vấn đề không? Hoàn toàn có thể nếu giáo viên biết cách chia nhỏ vấn đề thành 2 hoặc 3 câu hỏi nhánh có tính chất bắc cầu. Kết quả thực nghiệm trên 42 học sinh lớp 9B cho thấy việc dẫn dắt từ các giả định trực quan đã giúp tỷ lệ điểm dưới trung bình giảm mạnh từ 12,5% xuống chỉ còn 2,4%, giúp học sinh yếu tự tin bày tỏ quan điểm.

Hệ thống câu hỏi trong luận văn bao gồm những dạng cụ thể nào? Luận văn đã phân loại chi tiết 5 dạng câu hỏi đặc thù gồm câu hỏi mâu thuẫn, câu hỏi bất ngờ, câu hỏi lựa chọn, câu hỏi phản bác và câu hỏi giả định. Mỗi dạng câu hỏi đều đi kèm ít nhất 2 ví dụ minh họa trực tiếp từ 4 đoạn trích trong chương trình lớp 9, hỗ trợ giáo viên ứng dụng linh hoạt theo từng mục tiêu bài học.

Kết luận

Nghiên cứu khẳng định tính cấp thiết và hiệu quả vượt trội của việc đổi mới phương pháp giảng dạy tác phẩm văn học trung đại thông qua hệ thống câu hỏi chuyên sâu:

  • Xác lập hệ thống hóa cơ sở lý luận vững chắc về dạy học nêu vấn đề với 5 dạng câu hỏi phù hợp đặc thù thi pháp Truyện Kiều.
  • Nhận diện chính xác 4 rào cản lớn và thực trạng 70% câu hỏi dạy học hiện nay còn mang nặng tính tái hiện thụ động.
  • Xây dựng thành công bộ giáo án thực nghiệm chuẩn mực cho 4 trích đoạn trọng tâm trong chương trình Ngữ văn lớp 9.
  • Chứng minh tính khả thi qua thực nghiệm sư phạm với tỷ lệ học sinh đạt điểm giỏi tăng 20,6% và điểm yếu giảm còn 2,4%.
  • Cung cấp 4 nhóm giải pháp toàn diện giúp nâng cao năng lực sư phạm cho giáo viên và cải thiện chất lượng giáo dục môn Ngữ văn.

Đóng góp cốt lõi của luận văn là mở ra hướng tiếp cận sư phạm hiện đại, giúp học sinh trung học cơ sở vượt qua rào cản thời gian để thấu cảm trọn vẹn giá trị nhân văn của kiệt tác văn học dân tộc. Kế hoạch trong 12 tháng tiếp theo là nhân rộng mô hình thực nghiệm sang toàn bộ hệ thống tác phẩm văn học trung đại trong nhà trường phổ thông. Các cơ sở giáo dục và quý thầy cô giáo hãy chủ động áp dụng ngay hệ thống câu hỏi nêu vấn đề vào từng giờ dạy để khơi dậy ngọn lửa sáng tạo và nâng tầm chất lượng dạy học môn Ngữ văn.