Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài Chương 2: Dạy học Ngữ Văn phần văn học trung đại (Ngữ văn 10, tập I) theo hướng tiếp cận văn bản Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lí thuyết về liên văn bản 1. Khái niệm liên văn bản Một cách khái quát (và cũng rất tương đối), người ta chia ra hai loại liên văn bản: kinh điển và hậu hiện đại. Liên văn bản theo quan niệm kinh điển, biểu hiện bởi sự liên hệ trực tiếp giữa văn bản này và những văn bản khác.
Ví dụ, trên phương diện thực hành, ghi chú rõ ràng nguồn gốc tài liệu tham khảo trong một bài viết nghiên cứu văn học (hay khoa học), hoặc sự sử dụng các điển cố trong Kiều chẳng hạn. Liên văn bản (intertext) là một thuật ngữ của văn bản học chỉ mối liên hệ tác động qua lại giữa văn bản đang được xem xét với những văn bản khác (có thể là/ không là văn bản văn học) hoặc với môi trường (context) văn hóa- lịch sử nói chung. Với tư cách một thuật ngữ lý luận văn học xác định, một phạm trù của thi pháp học, một tham số lý luận và phê bình văn học, nó từng được sử dụng từ những năm 20 và 30 của thế kỷ trước dưới những tên gọi khác nhau: đối thoại, liên ý thức, tiếp xúc văn bản, ngữ cảnh. Những thuật ngữ này đã được M.
Voloshilov sử dụng trong các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ và văn học, về thi pháp học và phương pháp luận xã hội học, chống hình thức chủ nghĩa và “ngữ nghĩa học-mỹ học”. Thuật ngữ liên văn bản lần đầu tiên được J. Kristeva sử dụng (1967) trên cơ sở phân tích quan niệm “tiểu thuyết đa thanh” của M. Bakhtin, ghi nhận hiện tượng đối thoại giữa một văn bản với các văn bản (và thể loại) có trước và cùng thời với nó.
Ngoài lý luận tiểu thuyết đa thanh của Bakhtin, nhà văn hóa học M. Jampolsky còn xác định thêm hai nguồn làm nảy sinh lý thuyết liên văn bản: các công trình nghiên cứu về giễu nhại (parody) của N. Tynyanov và lý thuyết đảo tự (anagram) của Ferdinant de Saussure. Khái niệm liên văn bản nảy sinh từ tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa hậu hiện đại về vai trò tích cực của môi trường văn hóa-xã hội trong quá trình khám phá và tri nhận thế giới (trong trường hợp này là thế giới nghệ thuật của nhà văn).
Theo đó, mỗi văn bản đều là một phức hợp “ghép nối” (Jacques Derrida); “một tấm vải đặc biệt, mới mẻ, được dệt nên từ những đoạn trích dẫn cũ”, “những trích dẫn 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com không nằm trong dấu ngoặc kép”, “một quần thể những sự chồng xếp các văn bản khác nhau” (M. Riffater), “được tạo nên nhờ… sự xâm nhập của nó vào những văn bản khác, mã khác, ký hiệu khác” (R. Barthes); mỗi văn bản hiểu theo nghĩa rộng, như là palimpsest (gốc Latin, có nghĩa bản viết trên da cừu), được viết trên bề mặt của những văn bản khác, tất yếu thẩm thấu qua ngữ nghĩa của nó (G. Genette), đều “có sự liên hội với nhiều ngôn từ (văn bản) khác”, “có sự đối thoại giữa các dạng phong cách ngôn từ khác nhau – phong cách của chính nhà văn, của người đọc (hoặc nhân vật) và phong cách được tạo nên bởi môi trường văn hóa đương thời hoặc trước đó” (J.
Thi pháp liên văn bản có liên quan đến đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa tân huyền thoại với vai trò đặc biệt của huyền thoại cổ đại, huyền thoại thánh kinh và các văn bản được huyền thoại hóa (như Hamlet, Don Juan, Faust,.) trong việc tạo nên tư tưởng của tác phẩm. Các hình thức liên văn bản và các cấp độ liên văn bản 1.1 Các hình thức liên văn bản Theo hệ thống phân loại những kiểu tác động qua lại giữa các văn bản do Genette đưa ra, có các hình thức liên văn bản sau đây: 1) Văn bản (text), đúng ra là hai hay nhiều văn bản khác nhau (đoạn trích, đoạn sao chép, ám chỉ) cùng hiện diện trong một văn bản; 2) Cận văn bản (paratext) là quan hệ của văn bản với bộ phận của nó (lời đề từ, nhan đề, truyện lồng vào); 3) Á văn bản (metatext) là quan hệ của văn bản với các tiền văn bản của nó; 4) Siêu văn bản (hypertext) là quan hệ nhái lại của văn bản với các văn bản khác bị nó giễu nhại; 5) Nguồn văn bản (archetext) là những mối liên hệ thể loại của văn bản.2 Các cấp độ liên văn bản Về cấp độ liên văn bản, có 3 cấp độ khác nhau. Thứ nhất, trên cấp độ đối tượng phản ánh tạo nên ám gợi liên văn bản, tác phẩm hiện đại quay về với một số tác phẩm cụ thể của quá khứ từ môi trường khác biệt, trong khi đó tác phẩm hậu hiện đại lại thiết lập quan hệ với một cái gì đó chung hơn, hướng đến một thể loại, một thời đại hoặc một quy ước văn học (đề tài, phong cách). Thứ hai, quan hệ liên văn bản phát triển trên cấp độ hình thức theo một quy trình mà đối với các nhà hiện đại chủ nghĩa “đối thoại liên văn bản được hoàn tất 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dưới dạng trích dẫn, ám chỉ, tranh luận, bắt chước, giễu nhại” và trong khi văn bản được xem xét vẫn còn là nó thì các nhà hậu hiện đại “chấp nhận thể loại của những quy ước khác tuân theo các văn bản cũ” và để đi đến kết cục đó họ sử dụng “những trích dẫn giả và đánh lừa”.
Với ý nghĩa đó, trích dẫn được hiểu không chỉ (và không hẳn) là sự vay mượn trực tiếp một đoạn văn bản mà chủ yếu là vay mượn mã phong cách-chức năng thuộc kiểu tư duy trước đó. Thứ ba, ở cấp độ phong cách, mục tiêu của nhà hiện đại chủ nghĩa khi thiết lập quan hệ liên văn bản là làm cho nghĩa của văn bản mới phong phú thêm, trong khi các nhà hậu hiện đại xây dựng quan hệ này là gắn văn bản mới vào nghĩa hiện tồn có trước: Nhà hiện đại chủ nghĩa tập trung chú ý vào văn bản mới, còn nhà hậu hiện đại lại nhắm đến văn bản cũ. Họ làm cho phức tạp lên trên cơ sở một phân tích so sánh, chẳng hạn giữa Ulysses của J. Joyce và The Name of the Rose (Tên của hoa hồng) của U.
Chủ nghĩa hậu hiện đại phủ nhận tính độc lập của tác phẩm văn học và nhấn mạnh tính lịch sử và tính ngữ cảnh của nó. Nhà văn hiện đại thừa nhận một thể loại văn học mới, coi tác phẩm văn học là một văn bản mở, một liên văn bản, biến nó thành siêu văn bản, không chỉ bàn giao cho cuộc đời mà còn đóng vai trò người giải thích và tự giải thích. Thế giới trong tác phẩm hậu hiện đại bao gồm cả những tổ hợp văn học với tư cách tự nó đã coi như một tác phẩm văn học. Để chỉ ra mối liên hệ liên văn bản đòi hỏi phải xác định hai cách thức quan hệ.
Thứ nhất, đặt tác phẩm văn học trong quan hệ với các văn bản khác: a) văn bản văn học (kể cả văn bản truyền miệng lẫn văn bản viết), b) văn bản phi văn học (ít nhiều có thể đoán nhận ra được). Thứ hai, đặt văn bản văn học trong quan hệ với hệ thống riêng biệt trong lĩnh vực văn hóa, lịch sử và đời sống thực tại. Trong trường hợp thứ hai có quan hệ giữa văn bản văn học và “văn cảnh” (context) theo nghĩa ký hiệu học. Điều này có nghĩa “văn cảnh” có thể là bất kỳ ngôn ngữ ký hiệu nào của nguồn gốc lịch sử: truyền thuyết, huyền thoại, tín ngưỡng, biểu tượng chung hoặc bất kỳ sự gợi nhắc quá khứ bằng biểu tượng.
Đó có thể là tục kiêng kỵ, nghi lễ, quy ước hoặc những chính sách khác của tộc người, về tư tưởng và tôn giáo. Như vậy, từ bản chất, nội hàm khái niệm liên văn bản, có thể xác định nguyên tắc “đọc” tác phẩm văn học từ góc độ liên văn bản là phải tìm ra những 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mối liên hệ hiển lộ và ngầm ẩn về mặt ngữ nghĩa-chức năng giữa văn bản với văn bản, giữa văn bản với văn cảnh, trên các tầng bậc cấu trúc của nó.3 Đặc trưng của liên văn bản hậu hiện đại Trong lý thuyết của việc đọc theo lối liên văn bản, các lý thuyết gia hậu hiện đại thường lưu ý đến những khía cạnh sau đây: ● Tính Tự Giác (reflexivity): phân tích và chứng minh tính chất tự giác hay tính chất bản năng của văn bản sử dụng kỹ thuật hoặc biểu hiện tính chất liên văn bản. Thông thường, một văn bản được viết theo lối liên văn bản một cách có ý thức, thường làm cho văn bản đó vượt hẳn ra ngoài chủ định của người viết. Tác động của ngôn ngữ làm cho văn bản đi ra ngoài tầm nhận thức của chính tác giả sáng tạo ra nó, trong khi đó, một văn bản được viết theo tính chất bản năng tự phát, bằng lối đọc liên văn bản chúng ta có thể dễ dàng khám phá ra những động hướng ẩn tàng bên trong văn bản.
Sự diễn dịch từ lối đọc liên văn bản có thể làm rộng và sâu thêm một tác phẩm nhưng rất khó để có thể triển hạn thật xa một văn bản được viết không chủ ý. ● Tính Biến Đổi (alterationality): tính chất biến đổi một sự kiện, một tư liệu, một văn bản gốc bằng chính ý thức của người viết, sẽ giúp chứng minh thêm tính tự giác của người viết sử dụng kỹ thuật liên văn bản. Liên hệ đến tính biến đổi của intertextuality thể hiện bằng cách bắt chước (pastiche), châm biếm (parody) hay xoáy vặn (twisting), hoặc thuần tuý sắp xếp lại những chất liệu sẵn có (collage), có thể là tiểu sử cá nhân (biography) như các tác phẩm của Peter Arkroyd viết về Oscar Wilde, T. Eliot, Charles Dickens và Ezra Pound; về một quan niệm xã hội như Michael Foucault viết về tính dục trong Archaeologhy of Knowledge, hay sự chuyển thể của phim Tân Romeo và Juliet do Leonardo DiCaprio thủ vai chính, vân vân.
Tính biến đổi càng tế vi bao nhiêu, ý thức về liên văn bản của người viết càng sâu sắc bấy nhiêu. ● Tính Minh Bạch (explicitness): tính minh bạch ở đây không phải là sự ghi chú rõ ràng xuất xứ tư liệu tham khảo như trong một luận văn nghiên cứu văn học hay trong các đề tài nghiên cứu khoa học.