đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trƣờng phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hƣớng dẫn của giáo viên. (3) Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác. Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tƣ duy của học sinh không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phƣơng pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hóa về cƣờng độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học đƣợc thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập. Áp dụng phƣơng pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn.
Việc sử dụng các phƣơng tiện công nghệ thông tin trong nhà trƣờng sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh. Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều đƣợc hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân. Lớp học là môi trƣờng giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đƣờng chiếm lĩnh nội dung học tập. Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân đƣợc bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó ngƣời học nâng mình lên một trình độ mới.
Bài học vận dụng đƣợc vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của ngƣời thầy giáo. Trong nhà trƣờng, phƣơng pháp học tập hợp tác đƣợc tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trƣờng. Đƣợc sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4 đến 6 ngƣời. Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuát hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung.
Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tƣợng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên đƣợc bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tƣơng trợ. Mô hình hợp tác trong xã hội đƣa vào đời sống học đƣờng sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội. 15 Luan van Trong nền kinh tế thị trƣờng đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia; năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trƣờng phải chuẩn bị cho học sinh. (4) Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò.
Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy. Trƣớc đây giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh. Trong phƣơng pháp tích cực, giáo viên phải hƣớng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học. Liên quan với điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học sinh đƣợc tham gia đánh giá lẫn nhau.
Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trƣờng phải trang bị cho học sinh. Theo hƣớng phát triển các phƣơng pháp tích cực để đào tạo những con ngƣời năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế. Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là một công việc nặng nhọc đối với giáo viên, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học. Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là ngƣời truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành ngƣời thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chƣơng trình.
Trên lớp, học sinh hoạt động là chính, giáo viên có vẻ nhàn nhã hơn nhƣng trƣớc đó, khi soạn giáo án, giáo viên đã phải đầu tƣ công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là 16 Luan van ngƣời gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh. Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sƣ phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hƣớng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên. Có thể so sánh đặc trƣng của dạy học cổ truyền và dạy học mới nhƣ sau: Dạy học cổ truyền Các mô hình dạy học mới Quan niệm Học là qúa trình tiếp thu và Học là qúa trình kiến tạo; học sinh tìm lĩnh hội, qua đó hình thành tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, kiến thức, kĩ năng, tƣ tƣởng, khai thác và xử lý thông tin,… tự hình tình cảm. thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất.
Bản chất Truyền thụ tri thức, truyền Tổ chức hoạt động nhận thức cho học thụ và chứng minh chân lí sinh. Dạy học sinh cách tìm ra chân lí. của giáo viên. Mục tiêu Chú trọng cung cấp tri thức, Chú trọng hình thành các năng lực kĩ năng, kĩ xảo.
Học để đối (sáng tạo, hợp tác,…) dạy phương phó với thi cử. Sau khi thi pháp và kĩ thuật lao động khoa học, xong những điều đã học dạy cách học. Học để đáp ứng những thƣờng bị bỏ quên hoặc ít yêu cầu của cuộc sống hiện tại và dùng đến. Những điều đã học cần thiết, bổ ích cho bản thân học sinh và cho sự phát triển xã hội.
Nội dung Từ sách giáo khoa + giáo Từ nhiều nguồn khác nhau: SGK, GV, viên các tài liệu khoa học phù hợp, thí nghiệm, bảng tàng, thực tế…: gắn với: - Vốn hiểu biết, kinh nghiệm và nhu cầu của HS. - Tình huống thực tế, bối cảnh và môi trƣờng địa phƣơng 17 Luan van - Những vấn đề học sinh quan tâm. Phƣơng Các phƣơng pháp diễn giảng, Các phƣơng pháp tìm tòi, điều tra, giải pháp truyền thụ kiến thức một quyết vấn đề; dạy học tương tác. Hình thức Cố định: Giới hạn trong 4 Cơ động, linh hoạt: Học ở lớp, ở tổ chức bức tƣờng của lớp học, giáo phòng thí nghiệm, ở hiện trƣờng, trong viên đối diện với cả lớp.
thực tế…, học cá nhân, học đôi bạn, học theo cả nhóm, cả lớp đối diện với giáo viên. Bảng 1: Bảng so sánh đặc trƣng giữa dạy học cổ truyền với dạy học mới 2.3 Phân loại phƣơng pháp dạy học: 2.1 Phân loại phƣơng pháp dạy học: 2.1 Một số cách phân loại cũ: Hiện nay có rất nhiều cách phân loại phƣơng pháp dạy học theo các góc độ khác nhau, chƣa có sự thống nhất. Căn cứ vào mục đích của lý luận dạy học: M.Exipop…đã phân ra các nhóm sau đây: (1) Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu mới, hình thành kỹ năng, kỹ xảo. (2) Nhóm phƣơng pháp củng cố, hoàn thiện kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo.
(3) Nhóm phƣơng pháp ứng dụng kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo. (4) Nhóm phƣơng pháp kiểm tra, đánh giá kỹ năng, kỹ xảo. Căn cứ vào nguồn kiến thức và tính đặc trƣng của sự tri giác thông tin: Với quan điểm này, E.I Golant…đã phân ra các nhóm phƣơng pháp sau đây: (1) Phƣơng pháp dùng ngôn ngữ (2) Phƣơng pháp trực quan (3) Phƣơng pháp thực hành. 18 Luan van Căn cứ vào hoạt động nhận thức của học sinh: I.Skatkin đã chia nhƣ sau: (1) Phƣơng pháp giải thích, minh họa, tái hiện.
(2) Phƣơng pháp trình bày, nêu vấn đề. (3) Phƣơng pháp tìm tòi từng thành phần. (4) Phƣơng pháp nghiên cứu. Căn cứ vào mức độ tích cực, sáng tạo của học sinh: R.Sharmar đã phân phƣơng pháp dạy học ra làm hai loại: (1) Dạy học lấy giáo viên làm trung tâm (teacher – centred) tức là vai trò và hoạt động của giáo viên là chủ yếu, hoạt động của học sinh là thụ động.
Thầy thuyết trình, giảng giải, giải thích cặn kẽ nội dung bài học, truyền thụ vốn hiểu biết và kinh nghiệm của mình cho học sinh. Học sinh thụ động tiếp thu, nghe, ghi chép, cố hiểu, cố nhớ những gì thầy dạy. Đôi khi học sinh trả lời một số câu hỏi đơn giản giáo viên nêu ra. (2) Dạy học lấy học sinh làm trung tâm (pupil – centered): ở đây, quá trình dạy học hƣớng vào nhu cầu và hứng thú của học sinh nhằm phát triển năng lực tự nhận thức, năng lực độc lập phát triển tƣ duy.
Giáo viên và học sinh cùng khảo sát những vấn đề, từng khía cạnh của vấn đề, giáo viên đóng vai trò chỉ dẫn, học sinh tích cực, chủ động tự lực nắm tri thức. Phân loại theo diện mặt trong, mặt ngoài: Klinberg, nhà lý luận dạy học của Đức và Nguyễn Bá Kim (phƣơng pháp dạy Toán) đã đƣa ra mô hình phân loại dạy học theo diện mặt ngoài và mặt trong. Nhóm phương pháp theo phương diện mặt ngoài: đó là nhóm phƣơng pháp có thể nhìn thấy bằng cách quan sát hình thức tổ chức giao tiếp giữa thầy – trò – nội dung, ví dụ: - Hình thức tổ chức dạy học (học theo bài lớp, tham quan, học trong quá trình lao động…) - Hình thức tổ chức cộng đồng học tập (dạy học toàn lớp, dạy học theo nhóm, dạy học cá nhân - phân hóa) 19 Luan van - Các hình thức hoạt động của thầy và trò (thuyết trình, trình bày trực quan, đàm thoại, diễn trình làm mẫu, thảo luận, dạy thực hành) b. Nhóm phương pháp theo phương diện mặt trong: dựa theo sự vận động của nội dung và tiến trình thực hiện trong quá trình dạy học, nó gồm 4 nhóm: (1) Theo chức năng của lý luận dạy học: các phƣơng pháp giới thiệu tài liệu mới, các phƣơng pháp củng cố tài liệu mới; các phƣơng pháp vận dụng kiến thức, kỹ năng kỹ xảo, các phƣơng pháp hệ thống hóa, khái quát hóa; các phƣơng pháp kiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng kỹ xảo .