Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận văn học Chương 2: Hướng dẫn học sinh trung học phổ thông phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận văn học Chương 3: Thực nghiệm sư phạm Sau đây là nội dung cụ thể của từng phần. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TẠO LẬP VĂN BẢN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC 1.1 Các vấn đề về năng lực 1.1 Khái niệm năng lực Trong tiếng Việt, từ “năng lực” rất gần nghĩa với một số từ khác như “tiềm năng”, “khả năng”, “kĩ năng”, “tài năng”, thậm chí còn có nét nghĩa gần với năng khiếu. Theo Từ điển tiếng Việt – Hoàng Phê (chủ biên), năng lực là: “1) Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; 2)Phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”[18,tr158].
Còn từ bình diện Tâm lý học, “năng lực” là “tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định”. Đó là “tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt” [31, tr254] Từ những diễn giải trên, có thể thấy “năng lực” bao gồm cả khả năng sẵn có hoặc được đào tạo để thực hiện công việc một cách hiệu quả ở chất lượng cao. Khác với “tiềm năng”, “năng lực” chủ yếu hiện ra trong hiện thực chứ không phải ở dạng tiềm tàng. Khác với “khả năng” nói chung, “năng lực” là “một mức độ nhất định của khả năng con người, biểu thị ở việc hoàn thành có kết quả một hoạt động nào đó”.
“Năng lực” cũng không giống “tài năng” vì “tài năng” là mức độ năng lực cao hơn, biểu thị sự hoàn thành một cách sáng tạo một hoạt động nào đó và càng khác với “năng khiếu” – khả năng sẵn có, có tính bẩm sinh. Còn so với “kĩ năng”, “năng lực” lại có phạm vi nghĩa rộng hơn, “năng lực” bao gồm khả năng đáp ứng các yêu cầu phức tạp dựa trên việc huy động các nguồn lực tâm lý (bao gồm cả kĩ năng và thái độ) trong một hoàn cảnh cụ thể. “Năng lực” là khả năng thực hiện, làm việc dựa trên hiểu biết chắc chắn, kĩ năng thuần thục và thái độ phù hợp; là những kiến thức, kĩ năng và các giá trị được phản ánh trong thói quen suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân.Năng lực hay kỹ năng, khả năng trong tiếng Việt có thể xem tương đương với các thuật ngữ “competence”, “ability”, “capability”…trong tiếng Anh. Do các nhiệm vụ cần phải giải quyết trong cuộc sống cũng như trong công việc, học 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tập hàng ngày là các nhiệm vụ đòi hỏi phải có sự kết hợp của các thành tố phức tạp về tư duy, cảm xúc, thái độ, kỹ năng vì thế có thể nói năng lực của một cá nhân là hệ thống các khả năng và sự thành thạo giúp cho người đó hoàn thành một công việc hay yêu cầu trong những tình huống học tập.
Ở Việt Nam, khái niệm năng lực cũng được định nghĩa khá tương đồng với khái niệm mà các nhà nghiên cứu trên thế giới đưa ra. Theo Trần Khánh Đức, trong Nghiên cứu nhu cầu và xây dựng mô hình đào tạo theo năng lực trong lĩnh vực giáo dục đã nêu rõ “năng lực là khả năng tiếp nhận và vận dụng tổng hợp, có hiệu quả mọi tiềm năng của con người (tri thức, kỹ năng, thái độ, thể lực, niềm tin…) để thực hiện công việc hoặc đối phó với một tình huống, trạng thái nào đó trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp” [26, tr3]. Ở một nghiên cứu khác về phương pháp dạy học tích hợp, Nguyễn Anh Tuấn (trường Đại học sư phạm kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh) đã nêu một cách khái quát rằng “năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm” [23, tr2]. Như vậy, cho dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng các nhà nghiên cứu của Việt Nam và thế giới đã có cách hiểu tương tự nhau về khái niệm này.
Trên cơ sở những nghiên cứu đó, trong luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm năng lực với nội dung như sau: năng lực là s ự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định.2 Cấu trúc và phân loại năng lực - Cấu trúc năng lực: Để hình thành và phát triển năng lực cần xác định các thành phần và cấu trúc của chúng. Có nhiều loại năng lực khác nhau. Việc mô tả cấu trúc và các thành phần năng lực cũng khác nhau. Cấu trúc chung của năng lực hành động được mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần: năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể.
+ Năng lực chuyên môn (Professional competency): Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn. Nó được tiếp nhận qua việc học nội dung – chuyên môn và chủ yếu gắn với khả năng nhận thức và tâm lý vận động. + Năng lực phương pháp (Methodical competency): Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề. Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và phương pháp chuyên môn.
Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức. Nó được tiếp nhận qua việc học phương pháp luận – giải quyết vấn đề. + Năng lực xã hội (Social competency): Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống giao tiếp ứng xử xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác. Nó được tiếp nhận qua việc học giao tiếp.
+ Năng lực cá thể (Induvidual competency): Là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các thái độ và hành vi ứng xử. Nó được tiếp nhận qua việc học cảm xúc – đạo đức và liên quan đến tư duy và hành động tự chịu trách nhiệm. - Phân loại năng lực: Tâm lý học chia năng lực thành các dạng khác nhau như năng lực chung và năng lực chuyên môn. + Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều ngành hoạt động khác nhau như năng lực phán xét tư duy lao động, năng lực khái quát hoá, năng lực tưởng tưởng… + Năng lực chuyên môn là năng lực đặc trưng trong lĩnh vực nhất định của xã hội như năng lực tổ chức, năng lực âm nhạc, năng lực kinh doanh, hội họa, toán học, văn học.
Năng lực chung và năng lực chuyên môn có quan hệ qua lại hữu cơ với nhau, năng lực chung là cơ sở của năng lực chuyên môn, nếu chúng càng phát triển thì càng dễ thành đạt được năng lực chuyên môn. Ngược lại sự phát triển của 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năng lực chuyên môn trong những điều kiện nhất định lại có ảnh hưởng đối với sự phát triển của năng lực chung. Đinh ̣ hướng xây dựng chương trin ̀ h giáo d ục phổ thông sau 2015 đã xác định một số năng lực chung cốt lõi mà mọi học sinh Việt Nam đều cần có để thích ứng với nhu cầu phát triển xã hội. Các năng lực này liên quan đến nhiều môn học, theo đó, mỗi môn học, với đặc trưng và thế mạnh riêng của mình, sẽ tập trung hướng đến một số năng lực, để cùng với những môn học khác sẽ có mục tiêu hình thành và phát triển một số năng lực chung cốt lõi cần thiết đối với mỗi học sinh.
Các năng lực chung, cốt lõi được sắp xếp theo các nhóm sau: - Năng lực làm chủ và phát triển bản thân, bao gồm: + Năng lực tự học + Năng lực giải quyết vấn đề + Năng lực sáng tạo + Năng lực quản lý bản thân - Năng lực xã hội, bao gồm: + Năng lực giao tiếp + Năng lực hợp tác - Năng lực công cụ, bao gồm: + Năng lực tính toán + Năng lực sử dụng ngôn ngữ + Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin (ICT) 1.3 Các năng lực chung và năng lực chuyên biệt trong môn Ngữ văn Trong định hướng phát triển chương trình sau 2015, môn Ngữ văn được coi là môn học công cụ, theo đó, năng lực giao tiế p ti ếng Việt và năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mỹ là các năng lực mang tính đặc thù của môn học; ngoài ra, năng lực giao tiếp, năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác, năng lực tự quản bản thân (là các năng lực chung) cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định các nội dung dạy học của môn học. Các năng lực mà môn học Ngữ văn hướng đến được thể hiện cụ thể như sau: + Năng lực giải quyế t vấ n đề 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Năng lực sáng ta ̣o + Năng lực hơ ̣p tác + Năng lực tự quản bản thân + Năng lực giao tiế p tiế ng Viê ̣t + Năng lực thưởng thức văn ho ̣c/cảm thụ thẩm mĩ - Dựa trên các năng lực cốt lõi đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất dựa trên quan niệm “năng lực phổ thông”, đồng thời phối hợp với thang nhận thức Bloom điều chỉnh, trong bài “Bàn về năng lực chuyên biệt trong môn Ngữ văn ở trường phổ thông” [24, tr54-55], thầy Phạm Minh Diệu đã đề xuất cách hiểu về các năng lực chuyên biệt cần được hình thành cho HS trong dạy học môn Ngữ văn ở trường phổ thông, gồm: + Đọc hiểu văn bản Đọc hiểu văn bản chỉ hoạt động tiếp nhận văn bản của bạn đọc là học sinh, trong môi trường lớp học, có hướng dẫn và có đánh giá.