Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về đầu tư từ ngân sách nhà nước cho ngành y tế - Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đầu tư từ ngân sách nhà nước cho ngành y tế cấp tỉnh 8 - Chương 3: Thực trạng đầu tư từ ngân sách nhà nước cho ngành y tế tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2011 – 2020 - Chương 4: Định hướng và giải pháp hoàn thiện đầu tư từ ngân sách nhà nước cho ngành y tế tỉnh Thanh Hóa. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐẦU TƯ TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO NGÀNH Y TẾ 1. Những nghiên cứu liên quan đến chủ đề của luận án 1. Những nghiên cứu về vai trò của đầu tư từ ngân sách nhà nước Có thể thấy, một số vấn đề liên quan đến đầu tư từ ngân sách nhà nước đã được viết thành giáo trình giảng dạy ở các trường đại học trong khuôn khổ lý thuyết về các môn học kinh tế vĩ mô, kinh tế phát triển, kinh tế công cộng.
Đầu tư từ ngân sách nhà nước cũng được giảng dạy trong khuôn khổ chung của tài chính công. Nhiều nước, nhiều tổ chức kinh tế quốc tế đã nghiên cứu về vai trò và phạm vi đầu tư từ ngân sách nhà nước. Ví dụ trong “Kinh tế học công cộng” của tác giả Joseph E. Samuelson và William D, Nordhaus (1997) trong “Kinh tế học” cũng khẳng định Nhà nước cần đầu tư để nâng hiệu quả nền kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô và tái phân phối đảm bảo trạng thái công bằng trong sử dụng của cải xã hội.
Gần đây, sau các cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, Việt Nam cũng như các quốc gia trên thế giới hầu hết đều cho rằng cần phải tái cấu trúc lại nền kinh tế nhằm đổi mới mô hình tăng trưởng, mà trọng tâm sẽ là tái cấu trúc đầu tư từ ngân sách nhà nước. Vấn đề đầu tư công (ĐTC) đã được chú ý đặc biệt và thu hút nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Có thể tổng quan một số công trình nghiên cứu như sau: Vai trò của đầu tư từ ngân sách nhà nước được nghiên cứu trong các công trình của các tác giả Easterly và Rebelo (1993), Greene và Villanueva (1991), Ghura và Goodwin (2000) hay Cavallo và Daude (2008). Các công trình này đã nghiên cứu đầu tư công bằng ngân sách nhà nước trong tương quan với đầu tư tư nhân và chỉ ra kết quả: Ở một số quốc gia, đầu tư từ ngân sách nhà nước có ảnh hưởng lấn át đầu tư tư nhân.
Cụ thể, trong “Public Investment in Developing Countries: A Blessing or a Curse?” các tác giả Cavallo và Daude (2008) đã sử 10 dụng phương pháp nghiên cứu số liệu chuỗi (panel data) cho 116 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 1980 - 2006 để đưa ra kết quả là đầu tư công lấn át rất mạnh đầu tư tư nhân, tức tăng đầu tư công làm giảm đầu tư tư nhân. Theo tác giả, mức độ lấn át của đầu tư công phụ thuộc vào một số yếu tố như: sức mạnh nền kinh tế, cơ chế, chính sách của mỗi quốc gia. Ở một số nước, đầu tư công có thể không lấn át mà có tác động lôi kéo, kích thích đầu tư tư nhân. Từ kết quả nghiên cứu, các tác giả đưa ra gợi ý: Đầu tư công nên tập trung vào tăng năng suất và sức cạnh tranh của nền kinh tế, nhất là vào những lĩnh vực có lợi tức xã hội lớn nhất, tạo cơ hội cho đầu tư tư nhân.
Jimenez (1995), “Human and physical infrastructure: Public investment and pricing policies in developing countries”. Bàn về vấn đề đầu tư ngân sách nhà nước vào cơ sở hạ tầng vật chất và phục vụ con người tại các nước đang phát triển, tác giả đã chỉ ra rằng, đầu tư từ ngân sách nhà nước phát triển cơ sở hạ tầng thúc đẩy tiêu dùng trực tiếp và góp phần tác động đến sản lượng, tăng phúc lợi gián tiếp qua việc cải thiện hệ thống giao dịch trên thị trường. Nghiên cứu của tác giả tập trung vào các dự án đầu tư trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng kỹ thuật như giao thông, thủy lợi, vào kết cấu hạ tầng xã hội, hạ tầng nhân lực như y tế, giáo dục. Kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy, đầu tư vào cơ sở hạ tầng vật chất và con người sẽ có tác động tích cực đối với thực hiện xóa đói, giảm nghèo, giảm chênh lệch vùng miền, thúc đẩy tăng trưởng.
Kết quả nghiên cứu này gợi ý Chính phủ các nước cần có chính sách đầu tư hợp lý, nên duy trì đầu tư công chủ yếu trong việc cung cấp các dịch vụ kết cấu hạ tầng vật chất, hạ tầng xã hội và cung ứng phúc lợi cho con người. (1997), “Public and Private Investment and The Growth Process in Developing Countries”. Trong nghiên cứu về tác động của đầu tư công và đầu tư tư nhân đến tăng trưởng đã đưa ra kết luận: “Đầu tư tư nhân có tác động lớn hơn đầu tư công; nếu đánh giá về tỷ suất sinh lời thì vốn tư nhân thường có tỷ suất sinh lời lớn hơn tỷ suất sinh lời của vốn nhà nước”. Các tác giả còn chỉ ra rằng, cần xem xét cẩn trọng quy mô và cơ cấu đầu tư từ ngân sách, bởi vì đầu tư tư nhân có tác động tích cực đến tăng trưởng mạnh hơn và cần tạo môi trường cạnh 11 tranh lành mạnh và thuận lợi cho khu vực tư nhân.
Ở Việt Nam, cách tiếp cận đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước chủ yếu dưới dạng báo cáo chuyên đề và nội dung chủ yếu là phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với đầu tư phát triển nói chung và đầu tư từ ngân sách nhà nước nói riêng, ít có công trình nghiên cứu có tính lý thuyết. Cụ thể là, trước năm 2010, đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu về vai trò kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chính sách đầu tư của Nhà nước. Ví dụ như công trình nghiên cứu của các tác giả Đỗ Hoài Nam (2003), Trần Đình Tỵ (2005), Lê Xuân Bá và Nguyễn Thị Tuệ Anh (2006), Võ Trí Thành (2007) và một số chương trình nghiên cứu cấp Nhà nước về lý luận và chính sách kinh tế, con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam trong thời gian 10 năm từ năm 2000 - 2010. Cũng có một số đề tài nghiên cứu liên quan tới chính sách huy động, sử dụng vốn và hiệu quả đầu tư, trong đó có đầu tư của Nhà nước và doanh nghiệp nhà nước.
Một số cuốn sách đã xuất bản công bố kết quả nghiên cứu của các chương trình và đề tài nghiên cứu có bàn về huy động vốn đầu tư, môi trường thu hút đầu tư, quản lý đầu tư nói chung và đầu tư của nhà nước nói riêng. Một số bài báo trên các tạp chí khoa học đã đề cập tới tài chính công, tình hình và những vấn đề đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, đầu tư cho các dự án trọng điểm lớn của Nhà nước, đầu tư cho các chương trình mục tiêu quốc gia. Một số đề tài nghiên cứu có phân tích tác động của đầu tư của Nhà nước đối với một số mục tiêu như tăng trưởng kinh tế vùng, giảm nghèo, phát triển nông thôn. Những kết quả nghiên cứu này chủ yếu xuất hiện dưới hình thức sản phẩm trung gian (các báo cáo), không được in ấn và phổ biến rộng rãi.
Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, nhiều ý kiến cho rằng cần phải tái cấu trúc lại nền kinh tế nhằm đổi mới mô hình tăng trưởng, mà trọng tâm sẽ là tái cấu trúc đầu tư công. Vấn đề quản lý đầu tư công đã được chú ý đặc biệt và thu hút nhiều nhà nghiên cứu trong nước. Tác giả Vũ Tuấn Anh (2010), “Tóm tắt về tình hình đầu tư công ở Việt Nam trong mười năm qua” đã nghiên cứu, phân tích tình hình đầu tư công trong 10 năm 2000-2010 từ các góc độ quy mô, cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, cơ cấu thành phần 12 kinh tế, cơ cấu nguồn vốn, cơ chế quản lý. Báo cáo đã đưa ra nhận xét rằng, trong thời gian kể từ 2006, quy mô đầu tư công đã tăng vọt, đi kèm với tỷ lệ tích lũy trong tổng GDP và tỷ lệ huy động GDP vào ngân sách tăng, thâm hụt ngân sách lớn.
Tác giả cho rằng, đây là một yếu tố gây lạm phát cao trong giai đoạn 2008-2010. Theo tác giả, nếu so sánh đầu tư công trong mối tương quan với quy mô kinh tế của đất nước (GDP) thì Chính phủ Việt Nam là nhà đầu tư lớn thuộc hàng đầu so với các nước trên thế giới, tỷ lệ huy động vào ngân sách cao. Đầu tư công chưa được sử dụng như một công cụ để thực hiện chính sách cơ cấu, chính sách xã hội và chính sách ưu tiên khoa học công nghệ tiên tiến. Tác giả Phô Thi San Sa May (2014), luận án tiến sỹ “Quản lý vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước ở tỉnh Sa La Văn, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào”, tác giả kết luận: “Vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, một địa phương.
Nó bảo đảm cho sự phát triển ổn định, vững chắc của nền kinh tế, nâng cao mức sống của người dân,. Tuy nhiên, những vai trò đó chỉ trở thành hiện thực khi vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước được quản lý một cách có hiệu quả”. Luận án đã xác định 5 nội dung quản lý vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước tỉnh, bao gồm: (1) Phân cấp quản lý vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước, (2) Lập kế hoạch vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước, (3) Tổ chức thực hiện kế hoạch vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước, (4) Kiểm tra thực hiện kế hoạch vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước; (5) Phối hợp trong quản lý vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước của các cơ quan chức năng. Đồng thời, trên cơ sở phân tích khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Sa La Văn, những thuận lợi và khó khăn của tỉnh trong đầu tư phát triển kinh tế, phân tích đánh giá thực trạng quản lý vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước tỉnh Sa La Văn, giai đoạn 2006-2013, chỉ ra những thành công và những hạn chế, từ đó đưa ra các nhóm giải pháp khắc phục.