ĐẶT VẤN ĐỀ Hội chứng ống cổ tay (Carpal Tunnel Syndrome) là tình trạng chèn ép thần kinh giữa khi nó đi qua ống cổ tay, đây là hội chứng hay gặp nhất trong các bệnh lý chèn ép dây thần kinh ngoại biên [23]. Thống kê ở Mỹ cho thấy tỷ lệ mắc Hội chứng ống cổ tay hàng năm khoảng 50/1000 người, ở nhóm nguy cơ cao tỷ lệ này có thể lên tới 500/1000 người [23]. Tại Việt Nam, chưa có số liệu thống kê, nhưng số người đến cơ sở khám và điều trị bệnh này khá đông. Bệnh thường gặp ở độ tuổi trên 35, nữ mắc nhiều hơn nam [2],[3].
Trong những năm gần đây, tỷ lệ mắc Hội chứng ống cổ tay ngày càng tăng cùng với sự phát triển của kỹ thuật lao động tinh vi, không đòi hỏi sức lao động lớn nhưng yêu cầu những động tác tỉ mỉ và sử dụng tính linh hoạt của cổ tay ngày càng nhiều. Thêm vào đó, trình độ dân trí, trình độ hiểu hiết về bệnh và chất lượng cuộc sống tăng lên khiến việc phát hiện và chẩn đoán bệnh lý này có xu hướng tăng lên [2]. Khoảng 70% bệnh nhân mắc Hội chứng ống cổ tay là vô căn, số còn lại có thể do các nguyên nhân nội sinh hoặc ngoại sinh. Nguyên nhân nội sinh từ các yếu tố làm gia tăng thể tích các thành phần trong ống cổ tay như thai kỳ, bệnh nhân chạy thận nhân tạo, gout, đái tháo đường…Các nguyên nhân ngoại sinh làm thay đổi kích thước ống cổ tay từ đó làm gia tăng áp lực kẽ dù thể tích các thành phần trong ống là không thay đổi [23],[28].
Hậu quả của việc chèn ép dây thần kinh giữa gây ra đau, tê, giảm hoặc mất cảm giác vùng da bàn tay thuộc chi phối của thần kinh, nặng hơn có thể gây teo cơ, giảm chức năng và vận động bàn tay. Nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời thì bệnh có thể khỏi hoàn toàn, ngược lại nếu để muộn thì sẽ gây ra những tổn thương và di chứng kéo dài làm ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt và công việc, gây thiệt hại đáng kể cho bản thân và gia đình người bệnh cũng như cho xã hội. Theo thống kê ở Mỹ, năm 2005 có tới 16.440 người lao động phải nghỉ việc do bị Hội chứng 2 ống cổ tay, kèm theo đó là sự tiêu tốn một số lượng lớn các nguồn lực kinh tế và xã hội để điều trị cho những bệnh nhân này [29]. Điều trị Hội chứng ống cổ tay bao gồm điều trị nội khoa và ngoại khoa.
Trong đó điều trị nội khoa được chỉ định với những bệnh nhân đến trong giai đoạn sớm của bệnh, với việc sử dụng nẹp cổ tay, uống hoặc tiêm corticoid tại ống cổ tay làm giảm triệu chứng nhanh, tuy nhiên triệu chứng tái phát sớm [5],[6]. Điều trị phẫu thuật cắt dây chằng ngang cổ tay chỉ định khi bệnh nhân đến trong giai đoạn nặng hoặc đã điều trị nội khoa thất bại [30]. Theo Y học cổ truyền không có bệnh danh của bệnh Hội chứng ống cổ tay, tuy nhiên hầu hết các bệnh nhân đều có triệu chứng là đau khớp, tê bàn ngón tay và hạn chế vận động nên được mô tả trong phạm vi Chứng tý (Thương cân). Nguyên nhân chính là do khí trệ huyết ứ, mạch lạc bất thông.
Khi kinh mạch ở khu vực cục bộ tổn thương làm cho khí huyết ứ trệ, không lưu thông mà dẫn đến sưng đau tê bì. Các phương pháp điều trị bằng Y học cổ truyền hiện nay thường dùng: thuốc, xoa bóp bấm huyệt, châm cứu, nhu châm, thủy châm, khí công dưỡng sinh…đem lại hiệu quả tốt, ít tác dụng không mong muốn. Do đó, để góp phần tăng hiệu quả điều trị bệnh Hội chứng ống cổ tay bằng phương pháp Y học cổ truyền kết hợp với Y học hiện đại, chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tác dụng điều trị Hội chứng ống cổ tay bằng phƣơng pháp điện châm kết hợp với siêu âm trị liệu” với mục tiêu: 1. Đánh giá tác dụng điều trị Hội chứng ống cổ tay bằng phương pháp điện châm kết hợp với siêu âm trị liệu.
Theo dõi một số tác dụng không mong muốn của phương pháp điện châm kết hợp với siêu âm trị liệu trên bệnh nhân Hội chứng ống cổ tay. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. HỘI CHỨNG ỐNG CỔ TAY THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI 1. Định nghĩa Hội chứng ống cổ tay Hội chứng ống cổ tay (HC OCT) hay còn gọi là hội chứng đường hầm cổ tay, hội chứng chèn ép thần kinh giữa (Carpal tunnel syndrome).
Đây là hội chứng hay gặp nhất trong các bệnh lý chèn ép dây thần kinh ngoại biên. Bệnh thường gặp ở độ tuổi trên 35, nữ mắc bệnh này nhiều hơn nam [23],[26]. Dây thần kinh giữa và cấu tạo giải phẫu ống cổ tay 1. Dây thần kinh giữa Dây thần kinh giữa được tạo nên bởi 2 rễ: rễ ngoài tách ra từ bó ngoài đám rối thần kinh cánh tay (bắt nguồn từ rễ cổ 5 đến cổ 7) và rễ trong tách ra từ bó trong của đám rối thần kinh cánh tay (bắt nguồn từ rễ cổ 8 và rễ ngực 1).
Dây giữa đi từ hõm nách đến cánh tay, cẳng tay, chui qua ống cổ tay (OCT) xuống chi phối cảm giác và vận động các cơ bàn tay. Dây thần kinh giữa không phân nhánh ở cánh tay nhưng có một số nhánh vào khớp khuỷu. Ở hố khuỷu trước dây thần kinh này chạy sát với động mạch cánh tay và đi xuống cẳng tay giữa hai đầu của cơ sấp, trước khi phân nhánh chi phối cho cơ sấp, cơ gấp cổ tay quay, cơ gấp các ngón nông và ở một số trường hợp chi phối cả cơ gan bàn tay. Nhánh gian cốt trước của dây giữa chi phối cơ gấp ngón tay dài, các cơ gấp ngón tay sâu của các ngón trỏ và ngón giữa, cơ sấp vuông.
Trước khi đi qua ống cổ tay dây thần kinh giữa tách ra nhánh cảm giác da bàn tay chạy dưới da và chi phối cảm giác vùng ô mô cái, nhánh này không bị ảnh hưởng trong Hội chứng ống cổ tay nhưng lại dễ bị tổn thương khi phẫu thuật điều trị Hội chứng này [32],[33].1: Chi phối cảm giác và vận động của dây thần kinh giữa [16] Ở bàn tay dây thần kinh giữa chia ra các nhánh vận động và cảm giác. Về cảm giác dây thần kinh (TK) giữa chi phối cho hơn một nửa gan tay ở phía ngoài (trừ một phần nhỏ da ở phía ngoài mô cái do dây thần kinh quay cảm giác), mặt gan tay của 3 ngón rưỡi ở phía ngoài kể từ ngón cái và cả mặt mu các đốt II-III của các ngón đó. Trong Hội chứng ống cổ tay thường có tổn thương cảm giác theo chi phối này. Về vận động ở bàn tay, dây TK này chi phối các cơ giun thứ nhất và thứ hai, cơ đối chiếu ngón cái, cơ dạng ngắn ngón cái và đầu nông cơ gấp ngón cái ngắn.
Khi tổn thương có thể thấy các dấu hiệu khó dạng ngón cái kèm theo teo cơ ô mô cái. Một điểm cần lưu ý là điểm xuất phát nhánh vận động TK giữa có thể thay đổi khi đối chiều với bờ xa của mạc giữ gân gấp. Có 46% trường hợp nhánh này đi qua OCT rồi quặt ngược lại vào cơ ô mô cái, được gọi là ngoài dây chằng, 31% trường hợp nhánh này xuất phát ở vị trí ngay bên trong OCT, rồi đi vòng qua bờ xa của dây 5 chằng (DC) ngang cổ tay, gọi là dưới dây chằng. 23% trường hợp nhánh này cũng xuất phát bên trong OCT nhưng nó đi xuyên qua DC ngang cổ tay, được gọi là xuyên dây chằng.
Bất thường về phân bố của TK giữa thường gặp là thông nối nhánh mô cái của TK giữa với nhánh sâu của TK trụ ở bàn tay và các ngón gọi là nhánh iche-Cannieu. Cấu tạo giải phẫu ống cổ tay Ống cổ tay là một khoang nằm trong vùng cổ tay, được giới hạn bởi dây chằng ngang cổ tay (DCNCT) phía trước và các xương cổ tay phía sau (hình 1. Dây chằng ngang cổ tay TK giữa Ống cổ tay Các xương cổ tay Hình 1.2: Thiết đồ cắt ngang qua OCT [17] 6 TK giữa Ống cổ tay DC ngang cổ tay TK giữa gân gấp các ngón tay Hình 1.3: Cấu tạo OCT [18] Chiều rộng của OCT trung bình là 25 mm, trong đó đầu gần là 20 mm vùng hẹp nhất ở ngang mức mỏm xương móc, và đầu xa là 26 mm. Chiều sâu khoảng 12mm ở đầu gần và 13mm ở đầu xa.
Chiều sâu tại điểm hẹp nhất là 10 mm ở ngang mức xương móc, vì vùng này là vùng gồ lên của xương cổ tay ở mặt sau và phần dày nhất của DCNCT ở trước. Chiều dài khoảng từ 2 đến 2. Thể tích của ống cổ tay khoảng 5ml và thay đổi tùy thuộc vào kích thước của bàn tay, thường nhỏ hơn ở nữ giới. Khu vực cắt ngang qua ống cổ tay có diện tích khoảng 185 mm2 và chiếm khoảng 20% tổng diện tích mặt cắt ngang của cổ tay [35],[23].
Ống cổ tay như một ống chứa các thành phần nối giữa vùng cẳng tay trước với bàn tay. Đi qua OCT có mười cấu trúc bao gồm: bốn gân gấp các ngón nông, bốn gân gấp các ngón sâu, cả tám cấu trúc này được bao bọc bởi túi hoạt dịch trụ, thứ chín là gân gấp ngón cái dài được bao bọc bởi túi hoạt dịch quay. Cuối cùng là dây thần kinh giữa, đây là cấu trúc nằm nông nhất trong ống cổ tay, được che phủ bởi mô mỡ - xơ và dây chằng ngang cổ tay [5]. Hội chứng ống cổ tay 1.
Cơ chế bệnh sinh Hội chứng ống cổ tay, thay đổi về giải phẫu và sinh lý bệnh dây thần kinh giữa khi bị chèn ép Ở bàn tay bình thường, áp lực kẽ trung bình bên trong OCT là 2,5 mmHg [37]. Áp lực tăng tối đa khi duỗi hay gấp hết tầm vận động cổ tay, nhỏ hơn áp lực đổ đầy mao mạch trung bình là 31 mmHg [38]. Bất kỳ sự gia tăng áp lực bên trong ống có thể dẫn đến sự méo mó cơ học của bao myelin hay thiếu máu TK giữa. Tác giả Gelberman chẩn đoán Hội chứng ống cổ tay khi cổ tay bệnh nhân ở tư thế tự nhiên áp lực > 32 mmHg, cổ tay duỗi là 94 mmHg, cổ tay gấp là 110 mmHg, tác giả Okusu và cộng sự chẩn đoán HC OCT trên BN chạy thận nhân tạo khi áp lực trong OCT ở tư thế nghỉ là > 15 mmHg và hoặc nắm chặt chủ động > 135 mmHg [34].