ĐẶT VẤN ĐỀ Tai biến mạch máu não (TBMMN) là một vấn đề th i sự trong y học, bệnh có tần suất 0,2% trong cộng đồng, phần l n ở ngƣ i trên 65 tuổi v i tỷ lệ khoảng 1%. Trên thế gi i, tỷ lệ tử vong của nhóm bệnh này đứng thứ ba sau các bệnh tim mạch và ung thƣ, tỷ lệ tàn tật chiếm hàng đầu trong các bệnh thần kinh. Hằng n m, có khoảng 700 000 ngƣ i Mỹ b đột quỵ và gây tử vong cho khoảng 150 000 ngƣ i Mỹ. Tại một th i điểm bất kỳ, có 5,8 triệu ngƣ i dân tại Hoa Kỳ b đột quỵ, gây tiêu tốn chi phí cho các ch m sóc sức khỏe liên quan t i đột quỵ lên đến gần 70 tỷ Dollar mỗi n m Trong đó, đột quỵ thiếu máu não cục bộ chiếm khoảng 80-85% các trƣ ng hợp đột quỵ [1].
Cùng v i sự phát triển của xã hội và y học, tỷ lệ sống sót sau TBMMN càng l n cũng đồng nghĩa v i tỷ lệ tàn tật do T MMN càng t ng Di chứng của bệnh nhân (BN) sau TBMMN bao gồm các di chứng về vận động, cảm giác, các rối loạn chức n ng cao cấp của vỏ não. Một trong số đó là tình trạng thất ngôn, đây cũng chính là nguyên nhân âm thầm gây cản trở về mặt hòa nhập xã hội cũng nhƣ về chất lƣợng cuộc sống của BN sau tai biến. Thất ngôn là tình trạng rối loạn ngôn ngữ do tổn thƣơng bán cầu não, là bệnh lý của “các quá trình ngôn ngữ trung tâm”, gồm các thức ngôn ngữ nhƣ: hiểu l i nói, hiểu chữ viết, di n đạt bằng l i nói và chữ viết, nó cũng có thể do rối loạn chức n ng cơ quan phát âm, trong đó 85% các trƣ ng hợp thất ngôn là do tổn thƣơng bán cầu não trái [2]. Hậu quả của tai biến mạch máu não gây liệt nửa ngƣ i, liệt các dây thần kinh sọ não, rối loạn cảm giác, rối loạn ngôn ngữ, rối loạn cơ tròn Đa số các đề tài nghiên cứu đều quan tâm đến phục hồi chức n ng vận động mà ít quan tâm đến phục hồi chức n ng ngôn ngữ cho bệnh nhân.
Ngôn ngữ là chức n ng rất quan trọng của bộ não con ngƣ i, là phƣơng tiện và công cụ giao tiếp xã hội quan trọng. Thất ngôn dù nặng hay nhẹ đều ảnh hƣởng đến chất lƣợng 2 cuộc sống của ngƣ i bệnh, họ ngại giao tiếp v i mọi ngƣ i xung quanh, dần dần bó hẹp cuộc sống ngay cả v i những ngƣ i thân. Thất ngôn càng nặng nề thì càng ảnh hƣởng đến tiến trình phục hồi chức n ng [3]. Tại Trung Quốc đang áp dụng phƣơng pháp chọn huyệt trên đầu là một phƣơng pháp m i kết hợp giữa lý luận tác dụng từng vùng não của YHHĐ v i phƣơng pháp châm của YH T Phƣơng pháp này đã đƣợc áp dụng trong điều tr một số bệnh lý thần kinh, trong đó có bệnh nhân thất ngôn do nhồi máu não và mang lại hiệu quả nhất đ nh trong thực tế lâm sàng.
Nhƣ vậy, Y học cổ truyền (YH T) đã quan tâm và có nhiều nghiên cứu phục hồi ngôn ngữ cho BN thất ngôn bằng châm cứu. Ở Việt Nam, phƣơng pháp châm cứu các huyệt vùng đầu m i đƣợc áp dụng tại một số cơ sở y tế, nhƣng chƣa có nghiên cứu nào về châm cứu các huyệt vùng đầu điều tr cho ngƣ i bệnh di chứng thất ngôn do TBMMN nói chung và NMN nói riêng đạt kết quả tốt Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu v i các mục tiêu sau: 1. Đánh giá kết quả của phương pháp điện châm các huyệt vùng đầu trong điều trị chứng thất ngôn bệnh nhân nhồi máu sau giai đoạn cấp. Theo dõi tác dụng không mong muốn của phương pháp trên.
3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Dịch tễ học TBMMN và rối loạn ngôn ngữ sau TBMMN 1. Tình hình TBMMN và rối loạn ngôn ngữ trên thế giới T MMN luôn là nguyên nhân quan trọng gây tử vong và tàn tật phổ biến ở mọi quốc gia trên thế gi i, để lại gánh nặng l n đối v i gia đình và xã hội [6]. Trên thế gi i, tỷ lệ m i phát hiện hằng n m của T MMN là 200 trƣ ng hợp đối v i 100 000 ngƣ i Ở Hoa Kỳ ƣ c tính có khoảng 6,5 triệu ngƣ i b T MMN (trung bình cứ 40s là có một ngƣ i b T MMN và cứ 3-4 phút là có một ngƣ i tử vong vì T MN) [9] Tài liệu d ch t học của T MMN tiến hành tại 35 bệnh viện ở châu Á cho thấy: tỉ lệ bệnh nhân T MMN điều tr nội trú ở Trung Quốc là 40%, Ấn Độ 11%, Indonesia 8%, Thái Lan 6%, Philippin 10%, Việt Nam 7%, Malaysia 2% [8].
Tác giả Held và cộng sự nghiên cứu 218 trƣ ng hợp liệt nửa ngƣ i phải do tổn thƣơng vùng bán cầu não trái có rối loạn ngôn ngữ trên 90%, bao gồm: 40% thất ngôn kiểu roca, 36% thất ngôn kiểu Wernick, 24% thất ngôn toàn bộ [9]. Ở Trung Quốc, khoảng hơn 1/3 N T MMN có rối loạn ngôn ngữ ở các mức độ khác nhau [4]. Tình hình TBMMN và rối loạn ngôn ngữ ở Việt Nam Tại Việt Nam, trong những n m gần đây T MMN có chiều hƣ ng gia t ng rất nhanh Theo Hoàng Khánh (2013) tỷ lệ tử vong do TBBMN hàng n m trung bình là 1. 4 Lê Tự Phƣơng Thảo, T ng Ngọc Phƣơng Lộc (2011) T MMN chiếm ½ số bệnh nhân điều tr tại khoa thần kinh bệnh viện hợ Rẫy và bệnh viện Nhân Dân [13] Hoàng Diệp (2005) tiến hành trắc nghiệm ngôn ngữ trên 120 bệnh nhân T MMN và tìm ra đƣợc 35 N có thất ngôn, chiếm tỷ lệ 29,2% [2].
Nguy n Thanh Hồng và Nguy n Thi Hùng (2007) nghiên cứu mất ngôn ngữ ở bệnh nhân nhồi máu não trên lều cho thấy tỷ lệ mất ngôn ngữ là 36,7% ó 6 loại mất ngôn ngữ đƣợc ghi nhận: thất ngôn roca 41%, thất ngôn Wernick 8,2%, thất ngôn toàn bộ 3,8%, thất ngôn dẫn truyền 9,8%, cảm giác xuyên vỏ 4,9%, vận động xuyên vỏ 3,3% [12]. Nhồi máu não và thất ngôn theo y học hiện đại 1. Định nghĩa TBMMN và nhồi máu não T MMN đƣợc đ nh nghĩa “là dấu hiệu phát triển nhanh trên lâm sàng các rối loạn chức n ng cục bộ của não kéo dài trên 24 gi và thƣ ng do nguyên nhân mạch máu” [7]. TBMMN gồm hai thể chính: chảy máu não và thiếu máu cục bộ não hay còn gọi là nhồi máu não.
Thiếu máu não cục bộ là tình trạng mô não b chết do hậu quả của gián đoạn dòng máu đến một khu vực của não, do tắc nghẽn một động mạch não hoặc động mạch cảnh hoặc ít gặp hơn là do tắc một tĩnh mạch não [6]. Các động mạch của não và màng não [8] 1. Chẩn đoán nhồi máu não và di chứng 1. Lâm sàng Lâm sàng thiếu máu não cục bộ biểu hiện bằng những thiếu sót thần kinh cấp, xuất hiện đột ngột trong vài giây, hoặc chậm hơn là vài gi , các triệu chứng lâm sàng tƣơng ứng v i vùng tổn thƣơng của não do cơ chế mạch máu gây nên [7].
Cận lâm sàng * Chụp CT-Scanner sọ não: Đây là kỹ thuật hiện đại nhanh chóng chẩn đoán và phân biệt chính xác NMN v i chảy máu não hay những tổn thƣơng khác 6 của não nhƣ apxe não, u não…NMN là những tổn thƣơng giảm tỷ trọng ó thể sau vài gi đến vài ngày hình ảnh chụp T m i cho kết quả dƣơng tính * Chụp cộng hưởng từ (MRI): cho thấy các cấu trúc nội sọ của mặt phẳng không gian, phát hiện tổn thƣơng giai đoạn s m * Chụp động mạch não: ó giá tr chẩn đoán các mạch máu ở cổ và não * Chọc dò dịch não-tủy: d ch não tủy trong suốt không có hồng cầu [14]. Đặc điểm chức năng BN sau NMN - Tính chất liệt: lúc đầu liệt mềm, th i gian có thể ngắn hoặc dài, đ nh khu chƣa rõ ràng, sau chuyển thành liệt cứng và đ nh khu ngày càng rõ + Liệt mặt xuất hiện s m nhƣng chóng phục hồi + Nói khó xuất hiện s m nhƣng phục hồi chậm + Rối loạn tinh thần thể hƣng phấn hoặc bi quan ảnh hƣởng đến đ i sống và hòa nhập xã hội + ó thể có rối loạn cơ tròn: Xuất hiện s m nhƣng khả n ng phục hồi ít 1. Giải phẫu sinh lý các cấu trúc bán cầu đại não có liên quan đến chức năng ngôn ngữ 1. Bán cầu ưu thế và chức năng hai bán cầu não Có ba vùng liên quan chặt chẽ nhất v i hoạt động trí tuệ là vùng nhận thức tổng hợp Wernicke, vùng l i nói roca và vùng nhận thức chữ viết ở hồi góc húng có đặc điểm chung là phát triển ở một bên bán cầu rất rộng hơn hẳn bên bán cầu kia, đó là bán cầu ƣu thế Khoảng 95% số ngƣ i là thuận tay phải và bán cầu trái là ƣu thế, còn lại 5% số ngƣ i thì hoặc là cả hai bán cầu ƣu thế nhƣ nhau hay hiếm hơn là chỉ bán cầu phải ƣu thế [13] Hai bán cầu não đƣợc biệt hóa về chức n ng: án cầu trái đặc trách về chuỗi chức n ng theo trật tự; bán cầu phải có xu hƣ ng về quá trình toàn thể hức n ng ngôn ngữ và l i nói mang tính quy trình chặt chẽ nên bán cầu trái có vai trò ƣu thế hơn trong chức n ng giao tiếp [15].
Giải phẫu sinh lý chức năng nhận thức ngôn ngữ của não [3]. Nhận thức ở não là quá trình xử lý và tích hợp thông tin, nâng cấp dần từ cảm giác giác quan lên mức nhận thức ngày càng cao hơn Trƣ c tiên, hệ thần kinh tiếp nhận những tín hiệu của môi trƣ ng tác động lên cơ thể, rồi tập hợp phân tích, xử lý các loại thông tin đó dẫn đến nhận thức về môi trƣ ng Từ đó có ý thức về cái tôi đang sống, đang tồn tại Tiếp đó hình thành tƣ duy đƣa đến kế hoạch tạo hành vi có mục tiêu bảo tồn sự sống và đƣợc thể hiện - giao tiếp v i môi trƣ ng xung quanh bằng ngôn ngữ [2].