Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan hội chứng cổ-vai-cánh tay theo y học hiện đại 1. Giải phẫu cột sống cổ H nh 1. Các đốt sống cổ [40] Cột sống cổ có 7 đốt, từ C1 đến C7, có đường cong ưỡn ra trước, đốt C1 (đốt đội) không có thân đốt, đốt C7 có mỏm gai dài nhất sờ thấy rõ, lồi ngay dưới da nhất là khi cúi cổ, nên được dùng để làm mốc xác định các đốt sống cổ.
Đặc điểm của xương cột sống: - Thân đốt sống: đường kính ngang lớn hơn đường kính trước sau, mặt bên có hai phình bên gọi là mỏm móc hay mấu bán nguyệt. Mặt dưới có hai mỏm bên ứng với phần bên của đốt sống dưới, phần trước dầy hơn phần sau. - Cuống: tròn và dầy, dính ở phần sau mặt bên thân đốt sống. Luan van - Mảnh: rộng bề ngang hơn bề cao.
- Mỏm ngang: dính vào thân và hai cuống bởi hai rễ, trong đó lỗ ngang cho động mạch đốt sống đi qua (trừ đốt C7). Đỉnh của mỏm ngang tách làm hai củ: củ trước và củ sau [14]. - Mỏm khớp: diện khớp phẳng rộng, diện của mỏm trên nhìn lên trên, ra sau, diện của mỏm dưới nhìn xuống dưới, ra trước. - Gai sống: đỉnh của gai sống tách ra làm hai củ, gai sống dài dần từ C2 đến C7 - Lỗ đốt sống: to dần từ đốt C1 đến C5 và nhỏ dần ở đốt C6 đến C7.
Khi khớp gian đốt sống bị thoái hoá, các gai xương thường làm hẹp lỗ gian đốt sống và chèn ép vào rễ thần kinh [41]. Giải phẫu cột sống cổ [40] Luan van 1. Chức năng cột sống cổ Chức năng vận động: cột sống cổ có tầm vận động linh hoạt hơn cột sống thắt lưng là do: khớp đốt sống cổ có góc nghiêng phù hợp, do khả năng đàn hồi của đĩa đệm, do đốt sống C1 có thể quay quanh C2, vì vậy đảm bảo cho đầu chuyển động nhanh và dễ dàng. Chức năng chịu tải trọng và bảo vệ tuỷ: ở cột sống cổ các thân đốt sống nhỏ, đĩa đệm không chiếm toàn bộ bề mặt thân đốt, do đó tải trọng tác động lên đĩa đệm cột sống cổ lớn hơn các phần khác của cột sống [15].
Tải trọng dẫn tới sự giảm chiều cao gian đốt. Khoang gian đốt C5 C6, C2 – C3 là những nơi chịu tải trọng nhất ở cột sống cổ, do đó hay gặp thoái hoá ở những đoạn đốt sống cổ này. Cột sống cổ tham gia vào sự phối hợp của mắt, đầu, thân mình; đồng thời tham gia vào việc định hướng trong không gian và điều khiển tư thế. Cột sống cổ là nơi chịu sức nặng của đầu và bảo vệ tủy sống nằm trong ống sống.
Các đĩa đệm vùng cột sống cổ có nhiệm vụ nối các đốt sống, nhờ khả năng biến dạng và tính chịu nén ép mà phục vụ cho sự vận động của cột sống, giảm các chấn động lên cột sống, não và tủy [38]. Cột sống cổ mặc dù nằm ở phần quan trọng của cơ thể lại phải chịu áp lực của cả hộp sọ nhưng vẫn có chức năng vận động tương đối thoải mái bao gồm các động tác cúi, ngửa, nghiêng, xoay. Cúi và ngửa tổng cộng một góc 127 độ, nghiêng bên tối đa 72 độ, xoay tối đa 142 độ. Khi cúi phần trước của đốt sống sẽ nghiêng ra trước so với bờ dưới của thân đốt sống, khoảng đĩa phía trước thu hẹp và khoảng đĩa phía sau mở rộng, còn khi ngửa thì ngược lại [73].
Luan van H nh 1. Các động tác vận động của cột sống cổ [58] 1. Thoái hóa cột sống cổ Thoái hóa cột sống cổ là bệnh cột sống mạn tính, đau và biến dạng, không có biểu hiện viêm. Tổn thương cơ bản của bệnh là tình trạng thoái hóa của sụn khớp và đĩa đệm, phối hợp với những thay đổi ở phần xương dưới sụn và màng hoạt dịch [27],[34].
Hội chứng cổ-vai-cánh tay Hội chứng cổ-vai-cánh tay (Cervical scapulohumeral syndrome), còn gọi là hội chứng vai cánh tay (Scapulohumeral syndrome) hay bệnh lý rễ tủy cổ (Cervical radiculopathy), bao gồm một nhóm các triệu chứng lâm sàng liên quan đến các bệnh lý cột sống cổ có kèm theo các rối loạn chức năng rễ, dây thần kinh cột sống cổ và/hoặc tủy cổ, không liên quan tới bệnh lý viêm. Biểu hiện lâm sàng thường gặp là đau vùng cổ, vai và một bên tay, kèm theo một số rối loạn cảm giác và/hoặc vận động tại vùng chi phối của rễ, dây thần kinh cột sống cổ bị ảnh hưởng [13],[59],[69]. Nguyên nhân và cơ chế hội chứng cổ-vai-cánh tay - Nguyên nhân thường gặp nhất (70-80%) của hội chứng cổ-vai-cánh tay là do thoái hóa cột sống cổ, thoái hóa các khớp liên đốt và liên mỏm bên làm hẹp lỗ tiếp hợp, gây chèn ép rễ/dây thần kinh cột sống cổ tại các lỗ tiếp hợp [27],[34]. - Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ (20-25%), đơn thuần hoặc phối hợp với thoái hóa cột sống cổ [27].
Luan van - Các nguyên nhân ít gặp khác bao gồm chấn thương, khối u, nhiễm trùng, loãng xương, bệnh lý về viêm cột sống và phần mềm cạnh cột sống [27],[34]. - Trong một số trường hợp hội chứng cổ-vai-cánh tay là do bản thân bệnh lý cột sống cổ gây đau cổ đồng thời lan ra vai hoặc tay, mà không có bệnh lý về rễ dây thần kinh cổ [34]. Triệu chứng của hội chứng cổ-vai-cánh tay 1. Triệu chứng lâm sàng - Hội chứng cột sống cổ: + Đau cổ gáy: có 3 kiểu biểu hiện: (1) Đau cổ gáy cấp tính: hay vẹo cổ cấp, xuất hiện sau một đêm ngủ dậy do gối đầu lệch hoặc sau lao động nặng, mệt mỏi, căng thẳng, lạnh.
thấy đau vùng gáy một bên lan lên cùng chẩm. Thường khỏi sau vài ngày và hay tái phát. (2) Đau vùng gáy mạn tính: đau âm ỉ khi tăng khi giảm, ít lan, khó vận động một số động tác vì đau, đôi khi thấy lạo xạo khi quay cổ. (3) Có điểm đau cột sống cổ: ấn vào các gai sau cột sống cổ thấy đau.
+ Hạn chế vận động cột sống cổ: đau làm đầu vẹo sang một bên không quay về bên kia được do cơ bên đau bị co cứng phản xạ. - Hội chứng rễ thần kinh. + Do thoái hóa hoặc thoát vị đĩa đệm chèn ép các rễ thần kinh thuộc đám rối thần kinh cánh tay, chủ yếu là rễ C5-C6. Đau vùng gáy âm ỉ tăng từng cơn nhất là về đêm, lan lên vùng chẩm và xuống vai và cánh tay.
Biểu hiện lâm sàng là hội chứng vai - gáy, hoặc hội chứng vai - cánh tay. Thường đau sâu trong cơ, xương với cảm giác nhức nhối khó chịu, có khi đau nhói như điện giật. Đau cổ thường giảm nhanh trong khi đau vai và tay thì ngày một tăng. Đau có tính chất cơ học, đau tăng khi đứng, đi, ngồi lâu, khi ho, hắt hơi, khi vận động cột sống cổ; đau giảm khi nghỉ ngơi, khi kéo giãn cột sống cổ.
Luan van + Rối loạn vận động, cảm giác kiểu rễ: bại một số cơ chi trên như dạng vai (C5), bại gấp cẳng tay (C6), bại duỗi cẳng tay (C7), bại gấp các ngón tay (C8). Có thể kèm theo hiện tượng giật bó cơ khi bị teo cơ rõ. Tê một vùng ở cánh tay, cẳng tay, bàn ngón tay. Định khu của hiện tượng giảm cảm giác tùy thuộc vào rễ thần kinh bị chèn ép.
Làm nghiệm pháp căng dây thần kinh của đám rối cánh tay thì đau và tê tăng. + Rối loạn phản xạ kiểu rễ cổ: giảm hoặc mất phản xạ gân xương do rễ thần kinh chi phối bị chèn ép: phản xạ gân cơ nhị đầu cánh tay (C5), phản xạ trâm quay (C6), phản xạ cơ tam đầu (C7). + Tổn thương rễ thần kinh cổ: (1) Dấu hiệu chuông bấm: ấn điểm cạnh sống tương ứng với lỗ ghép thấy đau xuất hiện từ cổ lan xuống vai và cánh tay. (2) Nghiệm pháp Spurling (ép rễ thần kinh cổ): bệnh nhân ngồi hoặc nằm nghiêng đầu về bên đau, thầy thuốc dùng tay ép lên đỉnh đầu bệnh nhân, đau xuất hiện ở rễ bị tổn thương do làm hẹp lỗ ghép.
(3) Nghiệm pháp căng rễ thần kinh cổ: bệnh nhân ngồi đầu nghiêng xoay về bên lành. Thầy thuốc cố định vai và từ từ đẩy đầu bệnh nhân về bên kia, đau xuất hiện dọc theo rễ thần kinh bị tổn thương. Hoặc bệnh nhân ngồi, thầy thuốc đặt tay lên vùng chẩm ấn từ từ cho cằm chạm xương ức, đau cũng xuất hiện dọc theo rễ thần kinh bị tổn thương. (4) Nghiệm pháp chùng rễ thần kinh cổ: bệnh nhân ngồi, thầy thuốc nâng cánh tay bên đau của bệnh nhân lên đầu và đưa ra sau, các triệu chứng rễ giảm hoặc mất.
(5) Nghiệm pháp kéo giãn cột sống cổ: bệnh nhân nằm ngửa, thầy thuốc dùng 2 bàn tay đặt lên cằm và chẩm bệnh nhân, từ từ kéo theo trục dọc một lực độ 10-15kg, các triệu chứng rễ cũng giảm hoặc mất. Luan van + Hội chứng động mạch sống - nền: đau đầu vùng chẩm, vùng hốc mắt, hoa mắt, chóng mặt, có thể nôn hoặc buồn nôn, đi lại loạng choạng không vững, có khi có hiện tượng nhìn đôi, rối loạn phát âm, rối loạn nuốt + Hội chứng cổ cục bộ + Hội chứng rễ và dây thần kinh [34]. Cận lâm sàng - Chụp X-quang cột sống cổ thường quy. + Trên phim chụp nghiêng thấy gai xương, mỏ xương ở thân đốt và mấu bán nguyệt, mỏ xương ở mấu bán nguyệt là lý do quan trọng, trực tiếp làm hẹp lỗ ghép và lỗ động mạch gây chèn ép rễ thần kinh và động mạch sống.
+ Trên phim chụp thẳng cho thấy mờ đậm hoặc phì đại mấu bán nguyệt, bên tổn thương khe khớp bán nguyệt hẹp hơn bên lành. + Trên phim chụp chếch 3/4 thấy lỗ ghép méo mó và bị hẹp. - Chụp cộng hưởng từ (MRI - Magnetic resonance imaging). + Đĩa đệm có ranh giới rõ, giảm tín hiệu trên T1 và tăng tín hiệu trên T2 do có nhiều nước.
+ Các đĩa đệm thoái hóa do không có nước nên trên T2 tín hiệu không tăng so với các đĩa đệm khác. + Khối đĩa đệm thoát vị là phần đồng tín hiệu với đĩa đệm nhô ra phía sau so với bờ sau thân đốt sống và không ngấm thuốc đối quang từ [34]. Chẩn đoán hội chứng cổ-vai-cánh tay Dựa vào các tiêu chuẩn sau: - Biểu hiện lâm sàng ít nhất một triệu chứng của hội chứng cột sống: đau cột sống cổ; điểm đau cạnh sống cổ; hạn chế vận động cột sống cổ.