ĐẶT VẤN ĐỀ Đau vùng cổ gáy là tình trạng đau cấp hoặc mãn tính tại vùng cổ gáy (có thể có lan) thường xuất hiện sau một động tác đột ngột, sai tư thế của cột sống cổ, sau khi thay đổi thời tiết hoặc xuất hiện kín đáo, thường kèm với co cứng cơ và hạn chế vận động. Có rất nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng này như: ngồi làm việc sai tư thế trong thời gian dài, nằm ngủ sai tư thế, do lạnh, thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, thoái hóa cột sống cổ, vẹo cổ bẩm sinh, dị tật, viêm, chấn thương vùng cổ. Đôi khi có những trường hợp đau vùng cổ gáy xuất hiện tự phát mà không có nguyên nhân rõ rệt. Đau vùng cổ gáy do thoái hóa cột sống cổ là nguyên nhân thường gặp nhất và là lý do chính khiện bệnh nhân đi khám.
Theo Trần Ngọc Ân tỉ lệ mắc THCSC đứng thứ hai sau thoái hóa cột sống thắt lưng và chiếm 14% trong các bệnh thoái hoá khớp [1]. Hiện nay, đau vùng cổ gáy do thoái hóa cột sống không chỉ phổ biến ở người cao tuổi mà còn hay gặp ở người trong độ tuổi lao động. Nguyên nhân do liên quan tới tư thế lao động như: ngồi làm việc lâu trước máy vi tính, cúi đầu lâu hoặc động tác đơn điệu lặp đi lặp lại của đầu, làm việc nhiều trong phòng điều hòa. Đau vùng cổ gáy không chỉ gây khó chịu cho người bệnh, giảm năng suất lao động mà còn làm giảm chất lượng cuộc sống.
Vì vậy, đau vùng cổ gáy đang là vấn đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các thầy thuốc [2],[3],[4]. Đau vùng cổ gáy với biểu hiện lâm sàng thường gặp là đau vùng cổ, vai và một bên tay, kèm theo một số rối loạn cảm giác và/hoặc vận động tại vùng chi phối của rễ dây thần kinh cột sống cổ bị ảnh hưởng [5]. Nguyên nhân thường gặp nhất (70-80%) là do THCSC, thoái hóa các khớp liên đốt và liên mỏm bên làm hẹp lỗ tiếp hợp, hậu quả là gây chèn ép rễ/dây thần kinh cột sống cổ tại các lỗ tiếp hợp [6]. 2 Y học hiện đại (YHHĐ) có nhiều phương pháp điều trị đau vùng cổ gáy nhưng điều trị nội khoa và vật lý trị liệu vẫn là lựa chọn hàng đầu.
Trong đó siêu âm trị liệu là phương pháp điều trị bệnh sinh, phương pháp này có tác dụng giảm đau, dãn cơ, tăng hấp thu dịch nề, giảm các triệu chứng viêm và được áp dụng trong trị liệu. Theo Y học cổ truyền (YHCT), đau vùng cổ gáy được xếp vào chứng tý. Bệnh do chính khí cơ thể suy yếu, ngoại tà xâm phạm, bế tắc kinh lạc gây đau [7],[8],[9],[10]. Bệnh được điều trị bằng thuốc YHCT, châm cứu, xoa bóp bấm huyệt.
Trong đó phương pháp điện châm và xoa bóp bấm huyệt (XBBH) đã khẳng định được kết quả điều trị Từ trước tới nay việc điều trị kết hợp giữa các phương pháp vật lý trị liệu với các phương pháp của YHCT đem lại hiệu quả cao trên lâm sàng. Tuy nhiên chưa có một công trình nghiên cứu nào đánh giá tác dụng điều trị kết hợp phương pháp siêu âm trị liệu của YHHĐ với điện châm và xoa bóp bấm huyệt của YHCT trong điều trị đau vùng cổ gáy trên lâm sàng. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tác dụng của phƣơng pháp siêu âm trị liệu kết hợp xoa bóp bấm huyệt, điện châm điều trị đau vùng cổ gáy do thoái hóa cột sống” với hai mục tiêu: 1. Đánh giá kết quả của phương pháp siêu âm trị liệu kết hợp xoa bóp bấm huyệt, điện châm điều trị đau vùng cổ gáy do thoái hóa cột sống.
Theo dõi tác dụng không mong muốn của phương pháp trên trong nghiên cứu. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Quan niệm đau vùng cổ gáy do thoái hóa cột sống theo Y học hiện đại [5], [11], [12],[13]. Khái niệm Đau vùng cổ gáy là một nhóm các triệu chứng lâm sàng liên quan đến các bệnh lý cột sống cổ có kèm theo các rối loạn chức năng rễ, dây thần kinh cột sống cổ và/hoặc tủy cổ, không liên quan tới bệnh lý viêm [5].
Thoái hoá cột sống cổ là bệnh lý mạn tính khá phổ biến, tiến triển chậm, thường gặp ở người lớn tuổi và/ hoặc liên quan đến tư thế vận động. Tổn thương cơ bản của bệnh là tình trạng thoái hoá sụn khớp và đĩa đệm ở cột sống cổ. Có thể gặp thoái hoá ở bất kỳ đoạn nào tuy nhiên đoạn C5-C6-C7 là hay gặp nhất [5]. Sơ lược về cấu tạo giải phẫu và chức năng của cột sống cổ 1.
Cấu tạo giải phẫu Hình 1. Các đốt sống cổ [11] 4 Cột sống cổ có 7 đốt, từ C1 đến C7, có đường cong ưỡn ra trước, đốt C1 (đốt đội) không có thân đốt, đốt C7 có mỏm gai dài nhất sờ thấy rõ [12]. Giữa C1 với xương chẩm và giữa C1- C2 không có đĩa đệm, vì vậy giữa C1 và xương chẩm và C1 - C2 không có lỗ tiếp hợp. Các đốt sống cổ kể từ C2 trở xuống liên kết với nhau bởi 3 khớp: - Khớp đĩa đệm gian đốt: đĩa đệm gian đốt luôn phải chịu áp lực tải trọng lớn.
Khi có sự cố định lâu trong một tư thế (do nghề nghiệp) hoặc do áp lực trọng tải, sẽ dẫn đến thoái hóa đĩa đệm và hình thành các gai xương ở các đĩa đệm cổ thấp. - Khớp sống - sống (còn gọi là khớp mấu lồi đốt sống, khớp nhỏ): tạo nên bởi các mấu sống trên và mấu sống dưới của hai thân đốt kế cận và được nhận biết trên phim chụp tư thế nghiêng (Hình 1. - Khớp bán nguyệt (còn gọi là khớp Luschka), chỉ có duy nhất ở cột sống cổ. Mỗi thân đốt sống có 2 mấu bán nguyệt ở góc trên ngoài, hợp với 2 góc dưới ngoài của thân đốt trên để tạo nên 2 khớp bán nguyệt ở mỗi khe gian đốt.
Mấu bán nguyệt bình thường có hình gai hoa hồng dễ nhận biết trên phim X quang tư thế thẳng (Hình 1. Khi khớp bán nguyệt bị thoái hóa dễ chèn ép vào động mạch đốt sống thân nền. Mấu bán nguyệt Khớp sống-sống Hình 1. Hình ảnh cột sống cổ trên phim X quang thẳng và nghiêng [13] 5 Lỗ tiếp hợp (còn gọi là lỗ ghép) (Hình 1.3): thành trong của lỗ tiếp hợp hình thành bởi phía ngoài là thân đốt sống và khớp Luschka.
Khớp mấu lồi đốt sống hình thành bởi diện khớp mấu lồi đốt sống trên và diện khớp mấu lồi đốt sống dưới, khớp được bao bọc bởi bao khớp ở phía ngoài. Lỗ tiếp hợp C3 - C4 Đĩa đệm C4 - C5 Cuống sống Mấu khớp dưới C6 Mấu khớp trên C7 Hình 1. Hình ảnh lỗ tiếp hợp trên phim X quang tư thế chếch ¾ [13] Dây thần kinh hỗn hợp chạy dọc theo lỗ tiếp hợp và tách ra thành 2 phần cảm giác và vận động riêng biệt. Phần vận động còn gọi là rễ trước tiếp xúc với khớp bán nguyệt, rễ sau nằm ở phía bên trong mỏm khớp và bao khớp.
Rễ thần kinh bình thường chỉ chiếm khoảng 1/4 -1/5 lỗ tiếp hợp. Đĩa đệm: được cấu tạo bởi 3 thành phần là nhân nhầy, vòng sợi và mâm sụn. - Nhân nhầy: được cấu tạo bởi một màng liên kết. Bình thường nhân nhầy nằm ở trong vòng sợi, khi cột sống vận động về một phía thì nó bị đẩy chuyển động dồn về phía đối diện.
- Vòng sợi: gồm những vòng sợi sụn (fibro-cartilage) rất chắc chắn và đàn hồi đan vào nhau theo kiểu xoắn ốc. Ở phía sau và sau bên của vòng sợi tương đối mỏng, nơi dễ xảy ra lồi và thoát vị đĩa đệm. - Mâm sụn: gắn chặt vào tấm cùng của đốt sống, nên còn có thể coi là một phần của đốt sống. - Chiều cao của đĩa đệm: ở đoạn sống cổ khoảng 3mm.
6 Dây chằng: - Dây chằng dọc trước bám ở mặt trước các đốt ống và đĩa đệm. - Dây chằng dọc sau bám vào mặt sau thân đốt và đĩa đệm. - Ngoài ra còn dây chằng vàng, dây chằng liên gai, dây chằng liên ngang. Mạch máu, thần kinh: - Từ đốt C6 đến C2 có động mạch đốt sống thân nền, tĩnh mạch và một số nhánh thần kinh giao cảm cổ chạy trong lỗ động mạch ở giữa mỏm ngang của mỗi đốt và ngay bên cạnh mỏm móc.
- Thần kinh vận động: các nhánh của đám rối cổ sâu: nhánh vận động cho cơ ở cột sống, cơ thang, cơ ức đòn chũm. Nhánh C5 chi phối vận động cơ delta, cơ tròn nhỏ, các cơ trên gai, dưới gai. Nhánh C6 chi phối vận động cơ nhị đầu, cơ cánh tay trước. Nhánh C7 chi phối vận động cơ tam đầu.
Nhánh C8 chi phối vận động cơ gấp ngón tay. - Cảm giác: nhánh C1, C2, C3 cho nửa sau đầu. Nhánh C4 cho vùng vai. Nhánh C5,C6,C7 cho nửa quay cánh tay, cẳng tay, ngón 1, 2, 3.
Nhánh C8, D1 cho nửa trụ cánh tay, cẳng tay, ngón 4,5. - Phản xạ gân xương: nhánh C5 chi phối phản xạ gân xương cơ nhị đầu. Nhánh C6 chi phối phản xạ gân xương cơ nhị đầu và trâm quay. Nhánh C7 chi phối phản xạ gân xương cơ tam đầu.
Chức năng cột sống cổ. Chức năng chịu tải trọng và bảo vệ tuỷ [14] Ở cột sống cổ các thân đốt sống nhỏ, đĩa đệm không chiếm toàn bộ bề mặt thân đốt, do đó tải trọng tác động phần lớn lên đĩa đệm dẫn tới sự giảm chiều cao gian đốt. Khoang gian đốt C5-C6, C2-C3 là những nơi chịu tải trọng lớn nhất ở cột sống cổ, do đó hay gặp thoái hoá ở những đoạn đốt sống cổ này. Cột sống cổ còn là nơi bảo vệ tủy và các thành phần khác trong ống sống.
7 Chức năng vận động [14]. - Cột sống cổ có phạm vi vận động rất lớn. Đoạn cổ trên (C1-C3) đáp ứng cho chuyển động xoay, thường ít gặp thoái hóa ở đoạn này. Các khớp đốt sống cổ cho phép chuyển động trượt giữa các thân đốt sống tạo nên vận động duỗi và gấp cột sống cổ.
Các cử động của cột sống cổ bao gồm: - Cử động theo mặt phẳng trước sau: cúi và ngửa cổ. Động tác này được thực hiện ở ba phần, đơn thuần chỉ xảy ra ở xương chẩm và đốt đội. Còn lại là vai trò của các khớp đốt sống khác từ C2 đến C7. - Cử động theo mặt phẳng ngang: nghiêng sang hai bên phải, trái.
- Cử động quay cổ: động tác này chủ yếu do khớp trục đội (C1 - C2) đảm nhiệm còn lại là sự tham gia của các đốt sống từ C2 đến C7 [14]. Các động tác vận động của cột sống cổ [14] 1. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh [2],[4],[15] 1.