Tổng quan nghiên cứu

Tai biến mạch máu não là nguyên nhân hàng đầu gây tàn tật và đứng thứ hai trong các nguyên nhân gây tử vong trên toàn cầu. Tại Việt Nam, theo ước tính của ngành y tế, mỗi năm có khoảng 200.000 trường hợp mắc mới, hơn 486.000 người đang phải sống chung với di chứng và cướp đi sinh mạng của khoảng 104.800 bệnh nhân. Trong các dạng tai biến mạch máu não, nhồi máu não chiếm tỷ lệ áp đảo từ 75% đến 80% tổng số ca bệnh. Hậu quả nặng nề nhất sau cơn nhồi máu não cấp tính là di chứng liệt vận động nửa người, khiến chỉ khoảng 10% người bệnh hồi phục hoàn toàn, 25% phục hồi với di chứng nhẹ, còn lại tới 65% rơi vào tình trạng tàn phế từ mức độ vừa đến nặng cần người trợ giúp.

Vấn đề đặt ra là việc tìm kiếm giải pháp phục hồi chức năng vận động an toàn, hiệu quả bền vững và giảm tải áp lực điều trị nội trú dài ngày cho người bệnh sau giai đoạn cấp. Luận văn Thạc sĩ Y học cổ truyền của tác giả Nguyễn Hồng Nhung tại Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam tập trung giải quyết mục tiêu: Đánh giá tác dụng phục hồi chức năng vận động bằng phương pháp cấy chỉ vào hệ thống huyệt Giáp tích vùng cổ và thắt lưng trên bệnh nhân nhồi máu não sau giai đoạn cấp, đồng thời theo dõi toàn diện các tác dụng không mong muốn của phương pháp can thiệp.

Nghiên cứu được triển khai thực nghiệm lâm sàng tại Khoa Y học cổ truyền thuộc Bệnh viện Bạch Mai trong khoảng thời gian từ tháng 06 năm 2020 đến tháng 04 năm 2021. Đối tượng nghiên cứu gồm 60 bệnh nhân thể Khí hư huyết trệ, được lượng giá khách quan thông qua các thước đo chuẩn quốc tế gồm thang điểm Rankin, thang điểm Orgogozo và chỉ số sinh hoạt hàng ngày Barthel. Ý nghĩa của công trình thể hiện ở việc chứng minh tính hiệu quả vượt trội, tính an toàn sinh học của kỹ thuật cấy chỉ tự tiêu Monosyn, mở ra hướng ứng dụng lâm sàng giá trị cao cho chuyên ngành Y học cổ truyền kết hợp Y học hiện đại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên sự giao thoa khoa học giữa Y học hiện đại và Y học cổ truyền nhằm giải thích trọn vẹn cơ chế phục hồi vận động sau đột quỵ nhồi máu não:

Thứ nhất, theo Y học hiện đại, cơ chế phục hồi dựa trên thuyết phản xạ thần kinh - thể dịch, nguyên lý cơ năng sinh lý linh hoạt của Wvedenski và học thuyết kiểm soát cổng đau của Melzack - Wall. Việc cấy chỉ bản chất là đưa protein tự tiêu Monosyn vào huyệt vị, tạo ra kích thích cơ học và phản ứng hóa sinh liên tục trong khoảng 10 đến 20 ngày. Quá trình tự tiêu kích thích cơ thể sản sinh kháng thể bao vây không đặc hiệu, tăng tổng hợp protein và hydrocarbon tại chỗ, gia tăng lưu lượng tuần hoàn mao mạch, nuôi dưỡng và thúc đẩy tái sinh các sợi cơ teo nhão. Về mặt giải phẫu, các huyệt Giáp tích vùng cổ từ C4 đến C7 nằm tại vị trí phân nhánh của đám rối thần kinh cánh tay, trong khi các huyệt Giáp tích thắt lưng L1 đến L5 chi phối trực tiếp đám rối thần kinh thắt lưng - cùng. Tác động vào các điểm này kích thích trực tiếp dẫn truyền xung động thần kinh điều khiển toàn bộ chi trên và chi dưới.

Thứ hai, theo Y học cổ truyền, nhồi máu não thuộc phạm vi chứng Trúng phong kinh lạc, với thể bệnh phổ biến nhất ở giai đoạn di chứng là Khí hư huyết trệ, mạch lạc ứ trở. Do chính khí hư suy, khí không hành được huyết dẫn tới huyết ứ, kinh lạc bế tắc làm tay chân nửa người mềm yếu vô lực, miệng méo, lưỡi lệch. Pháp điều trị trọng tâm là Bổ khí hoạt huyết, thông kinh hoạt lạc, kết hợp bài cổ phương trứ danh Bổ dương hoàn ngũ thang.

Ba khái niệm học thuật then chốt xuyên suốt đề tài gồm: Kỹ thuật cấy chỉ (Huyệt vị xuyên tuyến/Mai tuyến liệu pháp), Hệ huyệt Hoa Đà Giáp tích mở rộng và Lượng giá phục hồi chức năng thần kinh theo các thang điểm chuẩn y sinh.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế thử nghiệm lâm sàng có đối chứng, so sánh trước và sau điều trị theo phương pháp ghép cặp tương đồng (tuổi, giới, thời gian mắc bệnh và độ liệt ban đầu):

  • Cỡ mẫu và phân nhóm: Tổng cộng 60 bệnh nhân đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn chẩn đoán nhồi máu não bằng hình ảnh học cộng hưởng từ (MRI) hoặc cắt lớp vi tính (CT-Scanner), đã qua giai đoạn cấp và thuộc thể Khí hư huyết trệ. Mẫu nghiên cứu được chia đều thành 2 nhóm: Nhóm nghiên cứu gồm 30 bệnh nhân và Nhóm đối chứng gồm 30 bệnh nhân.
  • Phác đồ can thiệp:
    • Nhóm đối chứng (30 bệnh nhân): Điều trị phác đồ nền theo quy định của Bộ Y tế trong 4 tuần liên tục, bao gồm thuốc y học hiện đại kiểm soát bệnh nền (tăng huyết áp, đái tháo đường), thuốc thang Bổ dương hoàn ngũ thang sắc uống ngày 1 thang chia 2 lần, xoa bóp bấm huyệt 30 phút/ngày (5 ngày/tuần) và điện châm 12 đến 15 huyệt toàn thân (tần số 1-3 Hz, thời gian 20 phút/ngày, 5 ngày/tuần).
    • Nhóm nghiên cứu (30 bệnh nhân): Áp dụng phác đồ nền tương tự nhóm đối chứng, kết hợp cấy chỉ tự tiêu Monosyn số 3.0 (hãng B.Braun) bằng kim số 7 (hãng Gaoguan) vào hệ huyệt Giáp tích với tần suất 1 lần/tuần trong suốt 4 tuần (28 ngày). Lộ trình cấy luân phiên: Tuần 1 và 3 cấy nhóm huyệt Giáp tích C4-C5, C6-C7, L2-L3, L4-L5; Tuần 2 và 4 cấy nhóm huyệt Giáp tích C5-C6, C7-D1, L3-L4, L5-S1.
  • Phương pháp phân tích: Dữ liệu được quản lý và xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS phiên bản 22.0. Lý do chọn kiểm định t-test cho các biến số định lượng trung bình và kiểm định Chi-square (χ²) cho các biến số tỷ lệ phần trăm nhằm kiểm soát sai số ngẫu nhiên, đảm bảo tính chuẩn xác và độ tin cậy khoa học cao nhất. Lịch trình theo dõi chỉ tiêu lâm sàng và cận lâm sàng được thực hiện nghiêm ngặt tại 3 mốc thời gian: D0 (trước điều trị), D14 (sau 2 tuần) và D28 (sau 4 tuần can thiệp).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình thu thập và phân tích dữ liệu lâm sàng trên 60 bệnh nhân tại Bệnh viện Bạch Mai mang lại những phát hiện then chốt sau:

  • Đặc điểm nhân khẩu học và phân bố tổn thương: Độ tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 64,10 ± 11,15 tuổi; trong đó nhóm tuổi từ 60 trở lên chiếm tỷ lệ chủ yếu với 66,66% (độ tuổi 60-69 tuổi chiếm 33,33% và từ 70 tuổi trở lên chiếm 33,33%). Tỷ lệ nam giới mắc bệnh cao vượt trội so với nữ giới, chiếm 70,0% (42 bệnh nhân nam) so với 30,0% ở nữ giới (18 bệnh nhân nữ), thiết lập tỷ lệ nam/nữ là 2,33/1. Về định khu tổn thương, tỷ lệ liệt nửa người bên phải chiếm 56,67% (34 bệnh nhân) và bên trái chiếm 41,67% (25 bệnh nhân). Thời gian từ khi khởi phát đến lúc bắt đầu can thiệp trong khoảng 6-10 ngày ở nhóm nghiên cứu chiếm 43,33%, phản ánh giai đoạn vàng tiếp nhận điều trị phục hồi chức năng.
  • Hiệu quả phục hồi vận động vượt trội: Sau 28 ngày can thiệp, nhóm nghiên cứu cấy chỉ Giáp tích kết hợp phác đồ nền đạt mức cải thiện độ liệt và phục hồi chức năng sinh hoạt cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm đối chứng (p < 0,05). Đa số bệnh nhân ở nhóm cấy chỉ ghi nhận sự dịch chuyển tích cực từ 1 đến 2 độ liệt theo thang điểm Rankin. Điểm số trung bình trên thang điểm Orgogozo (lượng giá thiếu sót thần kinh) và chỉ số Barthel (mức độ độc lập sinh hoạt cá nhân) ở nhóm nghiên cứu tăng trưởng liên tục từ thời điểm D0, D14 đến D28, đưa tỷ lệ tự chủ vận động đạt mức khá và tốt lên trên 80%, tương đương xu hướng của các nghiên cứu chuyên khoa hàng đầu.
  • Tính an toàn sinh học tuyệt đối: Đánh giá cận lâm sàng tại mốc D28 cho thấy phương pháp cấy chỉ không làm thay đổi tiêu cực các chỉ số huyết học (số lượng hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu, nồng độ hemoglobin, hematocrit) cũng như các chỉ số sinh hóa chức năng gan, thận (AST, ALT, Ure, Creatinin, Glucose máu). Trên lâm sàng, không có trường hợp nào xảy ra tai biến vựng châm, nhiễm trùng vết cấy, chảy máu kéo dài hay phản ứng dị ứng chỉ tự tiêu.

Thảo luận kết quả

Hiệu quả phục hồi vận động vượt bậc của phương pháp cấy chỉ huyệt Giáp tích bắt nguồn từ sự duy trì kích thích trường diễn. Khác với phương pháp châm kim truyền thống chỉ tạo kích thích tức thời trong 20-30 phút mỗi ngày, chỉ tự tiêu Monosyn lưu giữ tại mô huyệt liên tục suốt 7 đến 14 ngày cho mỗi chu kỳ cấy. Quá trình thủy phân chỉ kích thích thường trực vào các nhánh sau của rễ thần kinh tủy sống đi ra từ các lỗ gian đốt sống tương ứng với huyệt Giáp tích (cách mỏm gai 0,5 thốn), từ đó phóng điện kích hoạt toàn bộ đám rối thần kinh cánh tay và thắt lưng - cùng. Sự tái sinh thần kinh ngoại vi này thúc đẩy trương lực cơ, giảm tình trạng teo cơ và phá vỡ cung phản xạ bệnh lý.

Khi so sánh với các công trình công bố trước đây, kết quả này hoàn toàn tương thích và làm sâu sắc hơn các bằng chứng lâm sàng. Điển hình, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Chí Thành trên 45 bệnh nhân nhồi máu não ghi nhận 100% bệnh nhân dịch chuyển độ liệt theo Rankin và 95,6% đạt mức khá tốt theo chỉ số Barthel. Tương tự, công trình của tác giả Trần Văn Thanh can thiệp trên 180 bệnh nhân cũng đạt tỷ lệ phục hồi vận động khá tốt tới 83,34% và làm tăng biên độ điện thế đơn vị vận động trên điện cơ đồ gấp 2 lần.

Trong thực tế trình bày báo cáo chuyên môn, các dữ liệu tiến triển này được minh họa sinh động qua biểu đồ đường xu hướng tăng điểm Barthel và Orgogozo qua các mốc D0, D14, D28, song hành cùng bảng so sánh tỷ lệ dịch chuyển độ liệt Rankin giữa hai nhóm nghiên cứu và đối chứng. Những mô hình trực quan hóa này làm nổi bật ưu thế vượt trội của kỹ thuật cấy chỉ: vừa nâng cao chất lượng phục hồi vận động, vừa giảm thiểu số lần châm kim từ 20 lần/tháng xuống chỉ còn 4 lần/tháng, tiết kiệm đáng kể thời gian và chi phí cho người bệnh.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu khoa học xác thực, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược có tính khả thi cao nhằm ứng dụng rộng rãi kỹ thuật cấy chỉ trong hệ thống y tế:

  1. Chuẩn hóa quy trình kỹ thuật cấy chỉ Giáp tích điều trị di chứng đột quỵ:
    • Hành động: Ban hành và chuẩn hóa phác đồ cấy chỉ huyệt Giáp tích (C4-D1 và L1-S1) tích hợp trong hướng dẫn chẩn đoán và điều trị của các cơ sở y tế.
    • Chỉ số mục tiêu: Đạt 100% tỷ lệ kỹ thuật viên tuân thủ nghiêm ngặt quy trình vô khuẩn và thao tác cấy góc nghiêng tránh màng xương.
    • Lộ trình: Hoàn thiện và phê duyệt trong giai đoạn 2024 - 2025.
    • Chủ thể thực hiện: Cục Quản lý Y, Dược cổ truyền phối hợp cùng các Hội nghề nghiệp chuyên ngành Châm cứu và Phục hồi chức năng.
  2. Mở rộng mô hình điều trị kết hợp Đông - Tây y tại các tuyến bệnh viện:
    • Hành động: Thiết lập đơn vị phục hồi chức năng đột quỵ tích hợp kỹ thuật cấy chỉ tự tiêu ngay sau khi bệnh nhân qua giai đoạn cấp tính tại khoa hồi sức hoặc nội thần kinh.
    • Chỉ số mục tiêu: Nâng tỷ lệ bệnh nhân nhồi máu não được tiếp cận phương pháp cấy chỉ lên trên 60%, giúp rút ngắn thời gian nằm viện trung bình từ 28 ngày xuống còn 14 đến 18 ngày.
    • Lộ trình: Triển khai thí điểm trong 12 tháng tại các bệnh viện đa khoa và y học cổ truyền tuyến tỉnh.
    • Chủ thể thực hiện: Ban Giám đốc và Trưởng khoa Y học cổ truyền, Khoa Thần kinh các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, trung ương.
  3. Đào tạo liên tục và chuyển giao công nghệ kỹ thuật cao:
    • Hành động: Tổ chức các khóa đào tạo y khoa liên tục (CME) chuyên sâu về giải phẫu ứng dụng hệ huyệt Giáp tích và kỹ thuật sử dụng kim cấy chỉ số 7, chỉ Monosyn/Catgut.
    • Chỉ số mục tiêu: Đào tạo chứng chỉ thực hành cho ít nhất 250 bác sĩ, kỹ thuật viên Y học cổ truyền mỗi năm.
    • Lộ trình: Thực hiện thường niên giai đoạn 2024 - 2027.
    • Chủ thể thực hiện: Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam, Bệnh viện Châm cứu Trung ương và Bệnh viện Bạch Mai.
  4. Mở rộng nghiên cứu lâm sàng đa trung tâm quy mô lớn:
    • Hành động: Tiến hành các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (RCT) đa trung tâm với cỡ mẫu mở rộng và theo dõi điện cơ đồ chuyên sâu.
    • Chỉ số mục tiêu: Mở rộng cỡ mẫu lên trên 200 - 300 bệnh nhân, theo dõi đánh giá kéo dài sau can thiệp 6 tháng và 12 tháng.
    • Lộ trình: Giai đoạn 2025 - 2028.
    • Chủ thể thực hiện: Các nhóm nghiên cứu sau đại học phối hợp cùng các trung tâm nghiên cứu y sinh học.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và thực tiễn phong phú, đặc biệt hữu ích cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm sau:

  • Bác sĩ chuyên khoa Y học cổ truyền và Phục hồi chức năng:
    • Lợi ích: Tiếp cận phác đồ cấy chỉ chi tiết, chuẩn hóa về công thức huyệt Giáp tích luân phiên 4 tuần và kỹ thuật thao tác lâm sàng an toàn.
    • Trường hợp sử dụng: Ứng dụng điều trị trực tiếp cho bệnh nhân liệt nửa người do nhồi máu não sau giai đoạn cấp tại các phòng khám, bệnh viện nội trú nhằm tối ưu hóa phục hồi vận động.
  • Học viên Sau đại học, Nghiên cứu sinh ngành Y - Dược:
    • Lợi ích: Tham khảo phương pháp luận nghiên cứu can thiệp lâm sàng có đối chứng ghép cặp chặt chẽ, cách áp dụng các bộ công cụ lượng giá quốc tế (Rankin, Barthel, Orgogozo) và kỹ thuật xử lý dữ liệu y sinh học qua SPSS 22.0.
    • Trường hợp sử dụng: Làm tài liệu tham khảo để xây dựng đề cương, phát triển các đề tài nghiên cứu chuyên khoa cấp cơ sở hoặc cấp bộ.
  • Nhà quản lý y tế và Lãnh đạo các cơ sở khám chữa bệnh:
    • Lợi ích: Có cơ sở khoa học và dữ liệu thực chứng để đánh giá hiệu quả kinh tế y tế của phương pháp cấy chỉ (giảm số lượt thủ thuật hàng ngày, giảm áp lực nhân lực điều dưỡng so với châm cứu thường quy).
    • Trường hợp sử dụng: Xây dựng chính sách phát triển danh mục kỹ thuật, định mức giá dịch vụ kỹ thuật y học cổ truyền tại đơn vị.
  • Bệnh nhân đột quỵ và thân nhân người bệnh:
    • Lợi ích: Nâng cao hiểu biết y khoa chính thống về phương pháp cấy chỉ tự tiêu không dùng thuốc, nắm rõ lộ trình và tiềm năng phục hồi vận động của bản thân.
    • Trường hợp sử dụng: Chủ động lựa chọn phương pháp điều trị bổ trợ an toàn, phối hợp hiệu quả cùng nhân viên y tế trong quá trình tập luyện phục hồi chức năng lâu dài.

Câu hỏi thường gặp

Phương pháp cấy chỉ có gây đau đớn nhiều hoặc để lại biến chứng nguy hiểm không?

Kỹ thuật cấy chỉ sử dụng kim chuyên dụng cỡ nhỏ (số 7) kết hợp gây tê hoặc thao tác nhanh chuẩn xác nên mức độ đau rất nhẹ, hoàn toàn nằm trong ngưỡng dung nạp của người bệnh. Nghiên cứu thực tế trên 30 bệnh nhân nhóm can thiệp tại Bệnh viện Bạch Mai không ghi nhận bất kỳ ca tai biến nào như nhiễm trùng, vựng châm hay chảy máu kéo dài. Các chỉ số men gan AST, ALT và chức năng thận Ure, Creatinin sau 28 ngày điều trị đều duy trì ổn định trong giới hạn sinh lý bình thường.

Tại sao lại lựa chọn hệ thống huyệt Giáp tích vùng cổ và thắt lưng để cấy chỉ phục hồi vận động?

Về mặt giải phẫu hiện đại, các huyệt Giáp tích từ C4 đến C7 nằm ngay vị trí xuất phát của rễ thần kinh tủy sống tạo nên đám rối thần kinh cánh tay, trong khi vùng L1 đến S1 chi phối đám rối thần kinh thắt lưng - cùng. Kích thích bằng chỉ tự tiêu tại đây mang lại tác động trực tiếp và mạnh mẽ lên toàn bộ đường dẫn truyền vận động của chi trên và chi dưới bên liệt, vượt trội hơn so với việc chỉ tác động đơn thuần vào các huyệt cục bộ ở ngọn chi.

Một liệu trình cấy chỉ phục hồi chức năng sau nhồi máu não kéo dài trong bao lâu?

Một liệu trình chuẩn trong nghiên cứu kéo dài 4 tuần (28 ngày), với tần suất thực hiện 1 lần mỗi tuần vào một ngày cố định. Bệnh nhân được luân phiên cấy 2 nhóm huyệt Giáp tích khác nhau giữa các tuần (tuần 1, 3 cấy nhóm huyệt Giáp tích C4-C5, C6-C7, L2-L3, L4-L5; tuần 2, 4 cấy nhóm huyệt Giáp tích C5-C6, C7-D1, L3-L4, L5-S1) nhằm đảm bảo kích thích liên tục mà không gây quá tải cục bộ tại một điểm huyệt vị.

Bệnh nhân ở giai đoạn nào của nhồi máu não thì đủ điều kiện an toàn để can thiệp cấy chỉ?

Phương pháp cấy chỉ được chỉ định khi bệnh nhân đã vượt qua giai đoạn cấp tính, các dấu hiệu sinh tồn (mạch, huyết áp, nhịp thở, nhiệt độ) đã ổn định, người bệnh tỉnh táo, tiếp xúc tốt và không có các biến chứng bội nhiễm hay loét tì đè nặng. Trong nghiên cứu, nhóm bệnh nhân bắt đầu can thiệp trong khoảng 6 đến 15 ngày sau khi khởi phát bệnh ghi nhận tốc độ đáp ứng và phục hồi chức năng vận động đạt kết quả tối ưu nhất.

So với phương pháp điện châm truyền thống hàng ngày, cấy chỉ mang lại những ưu thế vượt trội gì?

Điện châm truyền thống đòi hỏi bệnh nhân phải châm kim và lưu kim từ 20 đến 30 phút mỗi ngày (khoảng 20 lần châm trong tháng), gây bất tiện trong di chuyển và áp lực tâm lý sợ kim. Ngược lại, cấy chỉ chỉ cần thực hiện 1 lần mỗi tuần (tổng cộng 4 lần trong cả tháng) do chỉ tự tiêu duy trì kích thích liên tục suốt 10 đến 20 ngày tại huyệt vị, giúp giảm thiểu số lần xâm lấn mô, tiết kiệm thời gian và chi phí điều trị nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả phục hồi tương đương hoặc vượt trội.

Kết luận

  • Công trình đã khẳng định giá trị khoa học vững chắc của phương pháp cấy chỉ tự tiêu Monosyn vào hệ huyệt Giáp tích vùng cổ và thắt lưng trong việc phục hồi chức năng vận động cho bệnh nhân nhồi máu não sau giai đoạn cấp.
  • Hiệu quả can thiệp được định lượng rõ ràng qua sự cải thiện vượt trội trên thang điểm Rankin, chỉ số sinh hoạt Barthel và thang điểm thần kinh Orgogozo so với phác đồ đối chứng đơn thuần.
  • Độ an toàn sinh học của kỹ thuật đạt mức tuyệt đối, không gây biến đổi tiêu cực trên các chỉ số huyết học, chức năng gan thận cũng như không xuất hiện biến chứng nhiễm trùng hay dị ứng trên lâm sàng.
  • Đóng góp to lớn của luận văn là hoàn thiện một phác đồ kết hợp Đông - Tây y không dùng thuốc mang tính chuẩn hóa cao, giảm tải tần suất châm kim và tối ưu hóa chi phí điều trị cho hệ thống y tế.
  • Về lộ trình tiếp theo, phương pháp cần được chuyển giao rộng rãi tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trong vòng 12 đến 24 tháng tới, đồng thời triển khai nghiên cứu đa trung tâm mở rộng để theo dõi hiệu quả dài hạn.

Để tiếp cận toàn diện phác đồ kỹ thuật và khai thác chi tiết bộ dữ liệu nghiên cứu lâm sàng phục vụ công tác điều trị, quý đồng nghiệp và bạn đọc có thể liên hệ trực tiếp Bộ môn Châm cứu - Khoa Sau Đại học thuộc Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam để tra cứu toàn văn luận văn.