Chương 1: Tổng quan về vấn đề an toàn bảo mật hệ thống thông tin. Chương 2: Cơ sở lý luận và phân tích, đánh giá thực trạng của an toàn hệ thống thông tin, nâng cao tính bảo mật tại công ty cổ phần vật liệu xây dựng và phòng cháy chữa cháy Vinaconex 2. Chương 3: Định hướng phát triển, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả an toàn thông 5 Luan van tin, dữ liệu tại công ty cổ phần vật liệu xây dựng và phòng cháy chữa cháy Vinaconex 2. 6 Luan van CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CỦA AN TOÀN HỆ THỐNG THÔNG TIN, NÂNG CAO TÍNH BẢO MẬT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VẬT LIỆU XÂY DỰNG VÀ PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY VINACONEX 2 2.1 Cơ sở lý luận về an toàn hệ thống thông tin, nâng cao tính bảo mật tại công ty cổ phần vật liệu xây dựng và phòng cháy chữa cháy Vinaconex 2.1 Một số khái niệm cơ bản về an toàn bảo mật hệ thống thông tin Mạng máy tính là một tập hợp các máy tính được kết nối với nhau bởi đường truyền theo một cấu trúc nào đó và thông qua đó các máy tính trao đổi thông tin qua lại với nhau.
Mạng máy tính có hai đặc trưng cơ bản: Đường truyền và cấu trúc. Đường truyền là hệ thống các thiết bị truyền dẫn có dây hay không dây dùng để chuyển các tín hiệu điện tử từ máy tính này đến máy tính khác. Các tín hiệu điện tử đó biểu thị các giá trị dữ liệu dưới dạng các xung nhị phân. Tất cả các tín hiệu được truyền giữa các máy tính đều thuộc một dạng sóng điện từ.
Tùy theo tần số của sóng điện từ có thể dùng các đường truyền vật lý khác nhau để truyền các tín hiệu. Các đường truyền dữ liệu tạo nên cấu trúc của mạng. Dữ liệu là những con số, ký tự hay hình ảnh phản ánh về sự vật hay hiện tượng trong thế giới khách quan. Dữ liệu là các giá trị thô, chưa có ý nghĩa với người sử dụng.
(Theo [2]) Thông tin là ý nghĩa được rút ra từ dữ liệu thông qua quá trình xử lý (phân tích, tổng hợp, .), phù hợp với mục đích của người sử dụng. Có thể nói cách khác, thông tin là những dữ liệu đã được xử lý sao cho nó thực sự có ý nghĩa với người sử dụng. (Theo [2]) Hệ thống thông tin là một tập hợp và sự kết hợp của các phần cứng, phần mềm và các hệ mạng truyền thông được xây dựng và sử dụng để thu thập, tạo, tái tạo, phân phối và chia sẻ các dữ liệu, thông tin và tri thức nhằm phục vụ các mục tiêu của tổ chức. (Theo [3]) Các tổ chức có thể sử dụng các hệ thống thông tin với nhiều mục đích khác nhau.
Trong việc quản trị nội bộ, hệ thống thông tin sẽ giúp đạt được sự thông hiểu nội bộ, thống nhất hành động, duy trì sức mạnh của tổ chức, đạt được lợi thế cạnh tranh. 7 Luan van Với bên ngoài, hệ thống thông tin giúp nắm bắt được nhiều thông tin về khách hàng hơn hoặc cải tiến dịch vụ, nâng cao sức cạnh tranh, tạo đà cho sự phát triển. Website là một tập hợp các trang web bao gồm văn bản, hình ảnh, video, flash,. thường chỉ nằm trong một tên miền hoặc tên miền phụ.
Trang web được lưu trữ trên máy chủ web có thể truy cập thông qua Internet (Theo [4]) Website đóng vai trò là một văn phòng hay một cửa hàng trên mạng Internet – nơi giới thiệu thông tin về doanh nghiệp, sản phẩm hoặc dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp,. Có thể coi website chính là bộ mặt của doanh nghiệp, là nơi để đón tiếp và giao dịch với khách hàng, đối tác trên Internet. An toàn hệ thống thông tin: thông tin được coi là an toàn khi thông tin đó không bị làm hỏng hóc, không bị sửa đổi, thay đổi, sao chép hoặc xóa bỏ bởi người không được phép (Theo [1]) Bảo mật thông tin: là ngăn chặn các truy cập không được phép, hạn chế tối đa các sai sót của người dùng, đảm bảo các thông tin không bị mất hoặc bị thay đổi ngoài ý muốn, không tiết lộ nội dung dữ liệu, chương trình xử lý.2 Cơ sở lý luận về đảm bảo an toàn hệ thống thông tin, nâng cao tính bảo mật tại công ty cổ phần vật liệu xây dựng và phòng cháy chữa cháy Vinaconex 2.1 Các đặc trưng của một hệ thống thông tin bảo mật. Một HTTT bảo mật là một hệ thống mà thông tin được xử lý trên nó phải đảm bảo được 3 đặc trưng sau: (1) Tính bí mật của thông tin.
(2) Tính toàn vẹn của thông tin. (3) Tính khả dụng của thông tin. Ba đặc trưng này liên kết lại và được xem như là mô hình tiêu chuẩn của các hệ thống thông tin bảo mật. Mô hình này được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngữ cảnh và nhiều tài liệu khác nhau và được gọi tắt là mô hình CIA.
(1) Tính bí mật, một số loại thông tin có giá trị đối với một đối tượng xác định khi chúng không phổ biến cho đối tượng khác. Tính bí mật của thông tin là tính giới hạn về đối tượng được quyền truy xuất thông tin. Đối tượng truy xuất có thể là con người, là máy tính hoặc phần mềm, kể cả phần mềm phá hoại như virus, spywware, worn,. Thông tin chỉ được phép truy cập bởi những đối tượng được cấp phép.
(Theo [3]) 8 Luan van Tùy theo tính chất của thông tin mà mức độ bí mật của chúng sẽ khác nhau. Để đảm bảo tính bí mật của thông tin, ngoài các phương tiện vật lý như nhà xưởng, thiết bị lưu trữ, dịch vụ bảo vệ thì công cụ bảo vệ trong phần mềm được xem là công cụ bảo vệ thông tin hữu hiệu nhất trong môi trường máy tính. Sự bí mật của thông tin phải xem xét ở hai yếu tố là sự tồn tại của thông tin và nội dung của thông tin đó. Đôi khi, sự tồn tại của thông tin có ý nghĩa cao hơn.
(2) Tính toàn vẹn của thông tin: Thông tin chỉ được xóa hoặc sửa bởi những đối tượng được phép và phải đảm bảo rằng thông tin vẫn còn chính xác khi được lưu trữ hay truyền đi. (Theo [3]) Chính sách toàn vẹn dữ liệu phải đảm bảo cho ai là người được phép thay đổi dữ liệu và ai là người không được phép thay đổi dữ liệu. Dữ liệu trên thực tế có thể vi phạm tính toàn vẹn khi một hệ thống không đạt được độ an toàn cần thiết. Một số trường hợp tính toàn vẹn của thông tin bị phá vỡ: Thay đổi giao diện trang chủ của một website.
Chặn đứng và thay đổi gói tin được gửi qua mạng. Chỉnh sửa trái phép các file được lưu trữ trên máy tính. Do có sự cố trên đường truyền mà tín hiệu bị nhiễu hoặc suy hao dẫn đến thông tin bị sai lệch. Tính toàn vẹn được xét trên 2 khía cạnh: Tính nguyên vẹn của nội dung thông tin và tính xác thực của nguồn gốc thông tin.
Sự toàn vẹn về nguồn gốc thông tin trong một số ngữ cảnh có ý nghĩa tương đương với sự đảm bảo không thể chối cãi của hệ thống thông tin. Các cơ chế đảm bảo sự toàn vẹn của thông tin được chia thành hai loại: cơ chế ngăn chặn và cơ chế phát hiện. Cơ chế ngăn chặn có chức năng ngăn cản các hành vi trái phép làm thay đổi nội dung và nguồn gốc của thông tin. Các cơ chế phát hiện chỉ thực hiện chức năng giám sát và thông báo khi có các thay đổi diễn ra trên thông tin bằng cách phân tích các sự kiện diễn ra trên hệ thống.
Nếu như tính bí mật của thông tin chỉ quan tâm đến việc thông tin có bị tiết lộ hay không, thì tính toàn vẹn của thông tin vừa quan tâm tới tính chính xác của thông tin và cả mức độ tin cậy của thông tin. Các yếu tố như nguồn gốc thông tin, cách thức bảo vệ thông tin trong quá khứ cũng như trong hiện tại đều là những yếu tố quyết định độ tin cậy của thông tin và do đó ảnh hưởng đến tính toàn vẹn của thông tin. Vì vậy, việc đánh giá tính toàn vẹn của một hệ thống thông tin là một công việc phức tạp. 9 Luan van (3) Tính khả dụng của thông tin: là tính sẵn sàng của thông tin cho các nhu cầu truy xuất hợp lệ.
Nghĩa là thông tin được truy xuất bởi những người được phép vào bất cứ khi nào họ muốn. (Theo [3]) Tính khả dụng là một yêu cầu rất quan trọng của hệ thống, bởi vì một hệ thống tồn tại nhưng không sẵn sàng cho sử dụng thì cũng giống như không tồn tại một hệ thống thông tin nào. Một hệ thống khả dụng là một hệ thống làm việc trôi chảy và hiệu quả, có khả năng phục hồi nhanh chóng nếu có sự cố xảy ra. Tính khả dụng được xem là nền tảng của một hệ thống bảo mật.
Khi hệ thống không sẵn sàng thì việc đảm bảo hai đặc trưng còn lại (tính bí mật và tính toàn vẹn) sẽ trở nên vô nghĩa. Hiện nay, các hình thức tấn công từ chối dịch vụ DOS và DDOS được đánh giá là các nguy cơ lớn nhất đối với sự an toàn của các hệ thống thông tin, gây ra những thiệt hại lớn và đặc biệt là chưa có giải pháp ngăn chặn hữu hiệu. Các hình thức tấn công này đều nhằm vào tính khả dụng của hệ thống. Hiểu rõ 3 mục tiêu của bảo mật là bước căn bản đầu tiên trong quá trình xây dựng một hệ thống thông tin an toàn nhất có thể.
Tuy nhiên hiện nay, một số nghiên cứu đang hướng tới và đưa ra các mô hình mới cho việc mô tả các hệ thống an toàn. Theo đó, mô hình CIA không mô tả được đầy đủ các yêu cầu an toàn của hệ thống mà cần phải định nghĩa lại một mô hình khác với các đặc tính của thông tin cần được đảm bảo như: tính khả dụng, tính tiện ích, tính toàn vẹn, tính xác thực, tính bảo mật và tính sở hữu.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả an toàn, bảo mật hệ thống thông tin trong doanh nghiệp. Một hệ thống thông tin hoạt động hiệu quả chịu sự tác động của nhiều yếu tố, từ cả môi trường bên trong và môi trường bên ngoài, môi trường vi mô và môi trường vĩ mô.