MỞ ĐẦU Ngày nay, nhu cầu trao đổi dữ liệu qua hệ thống mạng máy tính trở thành vô cùng quan trọng trong mọi hoạt động của xã hội. Vấn đề bảo đảm an ninh, an toàn cho thông tin trên mạng ngày càng là mối quan tâm hàng đầu của các công ty, các tổ chức, các nhà cung cấp dịch vụ. Cùng với thời gian, các kỹ thuật tấn công ngày càng tinh vi hơn khiến các hệ thống an ninh mạng trở nên mất hiệu quả. Các hệ thống an ninh mạng truyền thống thuần túy dựa trên các tường lửa nhằm kiểm soát luồng thông tin ra vào hệ thống mạng một cách cứng nhắc dựa trên các luật bảo vệ cố định.
Với kiểu phòng thủ này, các hệ thống an ninh sẽ bất lực trước kỹ thuật tấn công mới, đặc biệt là các cuộc tấn công nhằm vào điểm yếu của hệ thống. Trước các nguy cơ xâm nhập của những kẻ tấn công nhằm tìm kiếm dữ liệu mật của công ty, doanh nghiệp, tổ chức, hay một quốc gia nào đó thì hệ thống IDS (IntrusionDetection System) ra đời để phát hiện sự xâm nhập trái phép của kẻ tấn công thông qua việc kiểm soát lưu lượng giao thông của hệ thống mạng. IDS chỉ kiểm tra và thông báo khi hệ thống có sự bất thường hoặc trái với một định nghĩa mà người dùng đặt ra cho hệ thống , IDS không thể thực hiện việc ngăn chặn ngay khi phát hiện xâm nhập xảy ra. Để thực hiện đảm bảo an ninh cho hệ thống mạng thì IPS(Intrusion Prevention Systems) ra đời.
Hệ thống phòng chống xâm nhập IPS là một kỹ thuật an ninh được kết hợp các ưu điểm của kỹ thuật tường lửa với hệ thống phát hiện xâm nhập IDS, có khả nǎng phát hiện các cuộc tấn công và tự động ngǎn chặn các cuộc tấn công đó. Trước sự phát triển của internet và sự hiểu biết ngày càng sâu của con người thì việc truy cập và phá hoại hệ thống mạng của một doanh nghiệp, công ty nào đó cũng theo đà phát triển của internet mà tăng lên rất nhiều. Triển khai hệ thống phát hiện, ngăn chặn các lưu lượng ra vào của hệ thống là việc cần thiết cho các doanh nghiệp có nhu cầu về sự an toàn của hệ thống trước những hành vi xâm nhập trái phép. Trong luận văn tác giả sẽ nghiên cứu và triển khai IDS/IPS tại Công ty cổ phần iPOS.
Với đặc thù là công ty cung cấp các giải pháp công nghệ cho ngành F&B (Food and Beverage Service), nên việc đảm bảo an toàn thông tin và bảo mật luôn được đặt lên hàng đầu. Triển khai IDS/IPS sẽ phần nào nâng cao bảo mật cũng như tính toàn vẹn của hệ thống giúp Công ty có được chất lượng dịch vụ cung cấp tốt hơn. TỔNG QUAN GIỚI THIỆU VỀ IDS/IPS 1.1 Các hệ thống phát hiện xâm nhập và tấn công từ chối dịch vụ IDS 1.1 Giới thiệu về IDS IDS (Intrucsion Detection System) được hiểu đơn giản là hệ thống phát hiện xâm phạm thông qua việc phát hiện những bất thường trong lưu thông mạng cũng như các sự kiện xảy ra trên hệ thống máy tính, từ đó phân tích và phát hiện các vấn đề về an ninh hệ thống để đám bảo việc phòng thủ trước những đợt tấn công mạng đang ngày một gia tăng. Hệ thống IDS khi phát hiện bất thường sẽ đưa ra các cảnh báo đối với quản trị viên hệ thống để tiến hành quét các cổng, đồng thời khóa các kết nối đang bị ảnh hưởng.
Ngoài ra, IDS còn có cả khả năng phân biệt giữa tấn công bên trong và tấn công bên ngoài dựa trên dấu hiệu của tấn công, điều này tương tự như cơ chế của các phần mềm diệt virus. Hệ thống IDS sẽ thu thập thông tin từ rất nhiều nguồn trong hệ thống được bảo vệ sau đó tiến hành phân tích những thông tin đó theo các cách khác nhau để phát hiện những xâm nhập trái phép. Khi một hệ thống IDS có khả năng ngăn chặn các nguy cơ xâm nhập mà nó phát hiện được thì nó được gọi là một hệ thống phòng chống xâm nhập hay IPS. Mô hình IDS/IPS 1.2 Phương pháp tấn công và từ chối dịch vụ Tấn công từ chối dịch vụ là một loại hình tấn công nhằm ngăn chặn những người dùng hợp lệ được sử dụng một dịch vụ nào đó.
Các cuộc tấn công có thể 2 được thực hiện nhằm vào bất kì một thiết bị mạng nào bao gồm là tấn công vào các thiết bị định tuyến, web, thư điện tử và hệ thống DNS,. - Tấn công từ chối dịch vụ có thể được thực hiện theo một số cách nhất định. Có năm kiểu tấn công cơ bản sau đây: Nhằm tiêu tốn tài nguyên tính toán như băng thông, dung lượng đĩa cứng hoặc thời gian xử lý Phá vỡ các thông tin cấu hình như thông tin định tuyến Phá vỡ các trạng thái thông tin như việc tự động reset lại các phiên TCP. Phá vỡ các thành phần vật lý của mạng máy tính Làm tắc nghẽn thông tin liên lạc có chủ đích giữa các người dùng và nạn nhân dẫn đến việc liên lạc giữa hai bên không được thông suốt.
Một cuộc tấn công từ chối dịch vụ có thể bao gồm cả việc thực thi malware nhằm: Làm quá tải năng lực xử lý, dẫn đến hệ thống không thể thực thi bất kì một công việc nào khác. - Những lỗi gọi tức thì trong microcode của máy tính. Những lỗi gọi tức thì trong chuỗi chỉ thị, dẫn đến máy tính rơi vào trạng thái hoạt động không ổn định hoặc bị đơ. Những lỗi có thể khai thác được ở hệ điều hành dẫn đến việc thiếu thốn tài nguyên hoặc bị thrashing.
VD: như sử dụng tất cả các năng lực có sẵn dẫn đến không một công việc thực tế nào có thể hoàn thành được. Gây crash hệ thống. Tấn công từ chối dịch vụ iFrame: trong một trang HTML có thể gọi đến một trang web nào đó với rất nhiều yêu cầu và trong rất nhiều lần cho đến khi băng thông của trang web đó bị quá hạn.3 Chức Năng IDS - Chức năng quan trọng nhất của IDS là: Giám sát: giám sát lưu lượng mạng các hoạt động bất thường và các hoạt động khả nghi Cảnh báo: Khi đã biết được các hoạt động bất thường của một truy cập nào 3 đó, IDS sẽ đưa ra cảnh báo về hệ thống cho người quản trị Bảo vệ: Dùng những thiết lập mặc định và những cấu hình từ nhà quản trị mà có những hành động chống lại kẻ xâm nhập. - Chức năng mở rộng của IDS: Phân biệt các cuộc tấn công từ trong hoặc từ bên ngoài: nó có thể phân biệt được đâu là những truy cập hợp lệ (hoặc không hợp lệ) từ bên trong và đâu là cuộc tấn công từ bên ngoài.
Phát hiện: dựa vào so sánh lưu lượng mạng hiện tại với baseline, IDS có thể phát hiện ra những dấu hiệu bất thường và đưa ra các cảnh báo và bảo vệ ban đầu cho hệ thống.4 Kiến trúc IDS Hình 1. Kiến trúc IDS - IDS bao gồm các thành phần chính: Thành phần thu thập gói tin (information collection). Thành phần phân tích gói tin (Detection). Thành phần phản hồi (response) nếu gói tin đó được phát hiện là một cuộc tấn công.
Thành phần phân tích gói tin là quan trọng nhất và ở thành phần này bộ cảm 4 biến đóng vai trò quyết định. Bộ cảm biến tích hợp với thành phần là sưu tập dữ liệu và một bộ tạo sự kiến. Cách sưu tập này được xác định bởi chính sách tạo sự kiện để định nghĩa chế độ lọc thông tin sự kiện. Vai trò của bộ cảm biến là dùng để lọc thông tin và loại bỏ dữ liệu không tương thích đạt được từ các sự kiện liên quan với hệ thống bảo vệ, vì vậy có thể phát hiện được các hành động nghi ngờ.
Bộ phân tích sử dụng cơ sở dữ liệu chính sách phát hiện cho mục này. Ngoài ra còn có các thành phần: dấu hiệu tấn công, sơ lược về các hành vi, các tham số cần thiết. Thêm vào đó, cơ sở dữ liệu giữa các tham số cấu hình, gồm các chế độ truyền thông với mô- đun đáp trả. Bộ cảm biến cũng có sơ sở dữ liệu của riêng nó.5 Kỹ thuật xử lý của IDS Một máy chủ tạo ra một gói tin mạng Các cảm biến trong mạng đọc các gói tin trong khoảng thời gian trước khi nó được gửi ra khỏi mạng cục bộ (cảm biến này cần phải được đặt sao cho nó có thể đọc tất cả các gói tin).
Chương trình phát hiện nằm trong bộ cảm biến kiểm tra xem có gói tin nào có dấu hiệu vi phạm hay không. Khi có dấu hiệu vi phạm thì một cảnh báo sẽ được tạo ra và gửi đến giao diện điều khiển. Khi giao diện điều khiển lệnh nhận được cảnh báo nó sẽ gửi thông báo cho một người hoặc một nhóm đã được chỉ định từ trước (thông qua email, cửa sổ popup, trang web v. Phản hồi được khởi tạo theo quy định ứng với dấu hiệu xâm nhập này.
Các cảnh báo được lưu lại để tham khảo trong tương lai (trên địa chỉ cục bộ hoặc trên cơ sở dữ liệu). Một báo cáo tóm tắt về chi tiết của sự cố được tạo ra. Cảnh báo được so sánh với các dữ liệu khác để xác định xem đây có phải là cuộc tấn công hay không.6 Phân loại các hệ thống IDS - Có hai loại phát hiện xâm nhập chính: Phát hiện sử dụng sai (dựa trên chữ ký). Loại IDS này cố gắng mô hình hóa 5 các mối đe dọa với các mẫu được xác định rõ và sau đó quét các tần suất xuất hiện của các mối đe dọa này.
Các loại phát hiện lạm dụng điển hình bao là truyền sâu máy tính. Vấn đề chính của nó là nó phải tìm kiếm để phát hiện các cuộc tấn công mới, vì chúng có thể có chữ ký không khớp với các cuộc tấn công hiện tại. Phương pháp này cũng rất tốt trong việc phát hiện các cuộc tấn công dựa trên tập lệnh, chẳng hạn như sử dụng NMAP để quét các máy chủ trên mạng, vì các tập lệnh có xu hướng có một hoạt động được xác định khá rõ. Phát hiện bất thường.
Loại IDS này giả định rằng hành vi bất thường của người dùng thiết bị có thể tương quan với sự xâm nhập. Ưu điểm của nó là nó thường có thể phản ứng với các cuộc tấn công mới, nhưng thường có thể đấu tranh để phát hiện các biến thể của các mối đe dọa đã biết, đặc biệt nếu chúng phù hợp với mô hình sử dụng thông thường của người dùng.