Chương 1 TỒNG QUAN TÀI LIỆU 1. Lịch sử, khái niệm và vai trò của bệnh viện 1. Vài nét về lịch sử bệnh viện Từ lâu, công tác điều trị đã được coi là vấn đề then chốt trong chăm sóc sức khỏe. Xã hội thời cổ đại chưa có cơ sở để thu nạp bệnh nhân điều trị, vì vậy các thầy thuốc chủ yếu thực hiện thăm khám và điều trị bệnh nhân tại nhà.
Càng ngày, lượng bệnh nhân có nhu cầu chữa bệnh tăng lên, các thầy thuốc đã biến nhà mình ở thành nơi dung nạp bệnh nhân. Lịch sử ghi nhận: Cơ sở khám và điều trị bệnh nhân sớm nhất thế giới được xây dựng tại Srilanca năm 137 trước công nguyên dưới quyền quản lý của nhà nước phong kiến thời vua Konig Dotoogamen. Đến thế kỷ VIII một bệnh viện đầu tiên ở châu Âu đã xuất hiện ở thủ đô Rome (Italia) gọi là Saintsprito. Những thế kỷ tiếp theo nhiều bệnh viện đã được các nhà nước phong kiến xây dựng ở khắp châu Âu và chỉ mươi thế kỷ gần đây hình thức điều trị nội trú tại bệnh viện mới phát triển sang Đông Á.
Ở nước ta, tổ chức chữa bệnh đã có từ lâu. Đời nhà Lý (1010-1224) đã tổ chức Ty Thái Y chăm lo sức khỏe nhà vua và quan lại. Vào the kỷ XIV, Nguyễn Bá Tĩnh, hiệu là Tuệ Tĩnh đã xây dựng 24 ngôi chùa, trong đó có chùa Hải Triều ở Cẩm Giang (Hải Dương) là những cơ sở chữa bệnh làm phúc sớm nhất nước ta. Cuối thế kỷ XVII, linh mục người Pháp tên là Langlois được triều đình Huế cấp đất xây dựng bệnh viện, đây là bệnh viện đầu tiên ở nước ta và cũng từ đây xuất hiện hai hình thức điều trị: nội trú và ngoại trú.
Đầu thời kỳ Pháp thuộc (năm 1863) chính phủ Pháp đã xây dựng Bệnh viện Grall (nay là Bệnh viện Nhi Đồng I Thành phố Hồ Chí Minh), Bệnh viện Đồn Thủy (Lanessan) vào năm 1893 dành cho quân đội và công chức Pháp (hiện nay là Viện Quân y 108 và Bệnh viện Hữu Nghị). Năm 1906 Pháp cho xây dựng nhà thương bảo hộ (nay là Bệnh viện Việt Đức). Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và đặc biệt là sau ngày giải phóng hoàn toàn Miền Nam (1975) Đảng và Nhà nước đã chú trọng phát triển các cơ sở điều trị bệnh nhân 6 nội trú phong phú, đa dạng và khắp đất nước, tỏa sâu tới các huyện, xã [10].053 bệnh viện với tổng số 144.129 giường bệnh, tỷ lệ giường bệnh/10. Ước tính có khoảng trên 8 triệu lượt bệnh nhân nội trú trong tất cả các bệnh viện năm 2007 [6].
Năm 2009 tại các cở sở y tế trên địa bàn tỉnh Phú Yên có 110.260 bệnh nhân nội trú trong đó tuyến huyện là 40. Định nghĩa, vai trò bệnh viện Trước đây, bệnh viện được coi là nhà tế bần cứu giúp những người nghèo khổ, được thành lập giống như những trung tâm từ thiện nuôi dưỡng người ốm yếu và người nghèo. Cùng với thời gian, khái niệm bệnh viện có nhiều thay đổi. Ngày nay, bệnh viện được coi là nơi chẩn đoán và điều trị bệnh tật, đào tạo các hoạt động chăm sóc sức khỏe và ở một mức độ nào đó là nơi trợ giúp cho các nghiên cứu y sinh học.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), bệnh viện là một bộ phận của một tổ chức mang tính chất y học và xã hội, có chức năng đảm bảo cho nhân dân được săn sóc toàn diện về y tế bao gồm chừa bệnh và phòng bệnh. Công tác ngoại trú của bệnh viện tỏa tới tận gia đình đặt trong môi trường của nó. Bệnh viện còn là trung tâm giảng dạy y học và nghiên cứu sinh vật xã hội [10]. Khi đề cập tới môi trường bệnh viện, các tài liệu của WHO cũng nêu ra rằng môi trường bệnh viện phải gần giống với môi trường gia đình để cho người bệnh có tâm lý thoải mái như ở nhà.
Trong thời gian gần đây, bệnh viện được coi là một loại hình tổ chức xã hội chủ chốt trong cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và đem lại nhiều lợi ích cho người bệnh và toàn xã hội. Đó là nơi chẩn đoán, chữa trị bệnh tật và cũng là nơi hồi phục sức khỏe. Ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển một cách mạnh mẽ, nhiều ứng dụng được đưa vào phục vụ cho y học. Nhận thức của người dân về chăm lo và bảo vệ sức khỏe ngày càng cao.
Họ muốn được cung cấp các dịch vụ y tế không chỉ trong khuôn khổ bệnh viện mà còn ở ngay tại gia đình. Mặt khác, ngày càng có nhiều loại bệnh lây lan do ô nhiễm môi trường và vì thế trách nhiệm chức năng của bệnh viện ngày càng nhiều hơn, tính phức tạp do đó cũng tăng lên. Tổ chức và cấu trúc của bệnh viện 1. P7 trí xây dựng bệnh viện Việc xác định vị trí để xây dựng bệnh viện trong cộng đồng cũng là vấn đề cần được cân nhắc kỹ càng để đảm bảo việc thực hiện các chức năng của bệnh viện.
Một số tiêu chuẩn cần được xem xét như sau: - Bệnh viện cần được xây dựng ở trung tâm của khu dân cư do bệnh viện phụ trách. Nếu vùng dân cư nằm rải rác, thưa thớt như ở miền núi hay không tập trung thì cần phải xây dựng thêm cơ sở thứ hai để đảm bảo điều kiện tốt nhất chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. - Bệnh viện cần được xây dựng gần đường giao thông của khu dân cư để đảm bảo cho nhân dân đến bệnh viện được nhanh chóng và thuận lợi nhất. Nhiều bệnh viện được xây dựng gần ngã ba, ngã tư trong khu vực trung tâm của dân cư.
Tuy nhiên, không xây dựng cạnh đường giao thông lớn vì dễ gây ô nhiễm tiếng ồn và bụi. - Bệnh viện cần phải nằm xa những nơi gây ra tiếng ồn và những nơi gây ô nhiễm như chợ, bến xe, bãi rác, nghĩa trang, khu chăn nuôi gia súc, các nhà máy xí nghiệp.Tuy nhiên cũng không nên xây dựng quá xa các bến xe, bến tàu, nhà bưu điện, công viên.Vì có thể gây khó khăn cho người bệnh và nhân dân đi lại, thông tin liên lạc và giải trí. Cấu trúc, sắp xếp các bộ phận tổ chức của bệnh viện nói chung Có thể mô tả vắn tắc những nét lớn như sau: Xung quanh bệnh viện cần có hàng cây xanh để chán bụi và tiếng ồn, tiếp đó là hàng rào hay tường xây vững chắc bao bọc. Bệnh viện cần có hai cổng: cổng chính ở phía trước để đón tiếp bệnh nhân và cán bộ tới làm việc, cổng phụ thường ở phía sau hay ngang của bệnh viện dùng để vận chuyển các vật bẩn ra ngoài như: rác, chất thải và xác chết.
Bệnh viện lớn có thể có nhiều cổng phụ. - Phòng bảo vệ thường được bố trí tại các cổng của bệnh viện. Phòng khám đa khoa cần đặt sát cổng chính để tiện cho dân vào khám bệnh. Khu hành chính có thể bố trí gần cổng chính.
Phòng cấp cứu được bố trí sao cho tiện việc cấp cứu bệnh 8 nhân từ ngoài vào, bệnh nhân từ các khoa phòng trong bệnh viện tới. Phòng cấp cứu có thế bố trí ở trung tâm của bệnh viện nhưng gần cổng chính. Phải có biển báo rõ và to hướng dẫn đi tới phòng cấp cứu. Ban đêm phải có đèn sáng chỉ dẫn.
- Khoa ngoại- sản cũng cần được bố trí gần cổng chính để phục vụ cho cấp cứu sản và ngoại khoa. Tất cả các khoa phải có hướng dẫn và biển báo, ban đêm phải có đèn sáng. Khoa truyền nhiễm cần được bố trí vào một góc của bệnh viện và xa các khoa khác, đồng thời cần có rào chắn xung quanh để cách ly và chống truyền bệnh sang các khoa khác. Nhìn chung các khoa lâm sàng nằm vây quanh khoa hồi sức cấp cứu.
Khoa xét nghiệm tổng họp nên ở xen kẽ vào giữa các khoa điều trị, cũng có thể bố trí gần khoa khám bệnh để tiện cho bệnh nhân làm các xét nghiệm chẩn đoán. Đối với bệnh viện lớn, khoa khám bệnh có thể tổ chức một khu xét nghiệm riêng. Khu vực hậu cần, các kho xăng, xe và bộ phận phục vụ khác nên để vào góc sau của bệnh viện. Khoa giải phẫu bệnh nhất thiết phải được bố trí gần cổng phụ.
Đường đi trong bệnh viện phải được lát gạch, đá phẳng, đi lại thuận tiện và không bụi bặm. cần trồng nhiều cây trên các đường này và xen giữa các khoa phòng để chống tiếng ồn và bụi. Xây dựng một vài khuôn viên nhỏ (như kiểu công viên) để người bệnh nghỉ ngơi, giải trí. Sơ đồ cấu trúc tổ chức của bệnh viện theo nguyên tắc một chiều.
Người bệnh từ ngoài vào khoa khám bệnh rồi đến các khoa điều trị. Sau khi điều trị khỏi, người bệnh tới phòng quản lý chức năng giải quyết thủ tục giấy tờ rồi ra viện theo cổng chính. Người bệnh tử vong được đưa tới khoa giải phẫu bệnh và ra ngoài theo cổng phụ. Nguyên tắc này hạn che tối đa sự nhiễm trùng chéo trong bệnh viện.
Những bộ phận tổ chức chính của bệnh viện đa khoa - Bộ phận hành chánh lãnh đạo gồm: Ban giám đốc và các phòng quản lý chức năng như: Phòng tổ chức cán bộ, phòng kế hoạch tổng hợp, phòng quản trị hành chính, phòng tài chính kế toán, phòng y tá trưởng bệnh viện. - Bộ phận chuyên môn gồm: Các khoa lâm sàng và các khoa cận lâm sàng. 9 - Bộ phận phục vụ gồm: Các kho, bộ phận sửa chữa, bảo vệ chăn nuôi gia súc, nhà giặt.các bộ phận này có thể nằm trong phòng vật tư, trang thiết bị y tế. - Các bệnh viện tuyến huyện thường không có các chuyên khoa sâu, khu vực lâm sàng thường chỉ gồm các khoa: nội, ngoại, sản, nhi, lây.
Các khoa xét nghiệm thường dồn lại thành khu xét nghiệm tổng hợp gồm: chẩn đoán hình ảnh, huyết học sinh hóa, vi sinh và giải phẫu bệnh. Mô hình tổ chức của bệnh viện đa khoa [ 10] 10 - Biên chế cán bộ và giường bệnh do Bộ Y tế, ủy ban kế hoạch nhà nước và ủy ban các cấp, các bộ, các ngành ấn định và căn cứ vào: + Nhiệm vụ của bệnh viện. + Dân số trong khu vực phụ trách của bệnh viện. + Tình hình bệnh tật ở địa phương.
+ Khả năng điều trị của tuyến trước. - Các khoa của bệnh viện được tổ chức căn cứ vào: + Nhiệm vụ và sổ giường của bệnh viện. + Nhu cầu điều trị của bệnh tật. + Nguyên tắc phân công trong bậc thang điều trị.
+ Tình hình cán bộ, cơ sở trang thiết bị. Các khoa trong bệnh viện được chia thành các đơn nguyên điều trị.