CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU CÁC KHÁI NIỆM VÀ CHÍNH SÁCH CHĂM SÓC SỨC KHỎE BAN ĐẦU 1. Một số khái niệm cơ bản được sử dụng trong nghiên cứu - Hộ gia đình: là những người ở cùng một nhà và ăn cùng mâm từ 3 tháng trở lên3. - Chủ hộ gia đình: là người đại diện cho hộ, được các thành viên trong hộ thừa nhận4. - Dịch vụ CSSKBĐ do TYT xã cung cấp: Là những dịch vụ y tế mà các TYT xã có trách nhiệm và khả năng cung cấp cho người dân theo quy định của pháp luật.
Trong khuôn khổ nghiên cứu, các dịch vụ này bao gồm dịch vụ khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe bà mẹ & trẻ em, tiêm chủng mở rộng và truyền thông giáo dục sức khỏe cho cộng đồng. - Sử dụng dịch vụ CSSKBĐ: trong nghiên cứu này được hiểu là những người khi có nhu cầu sử dụng các dịch vụ CSSKBĐ tại các trạm Y tế xã thì có thể được đáp ứng hoặc không được đáp ứng. Những người có nhu cầu sẽ được các nhân viên trạm Y tế xã cung cấp các dịch vụ tại chỗ hoặc tại nhà. Khái niệm về chăm sóc sức khỏe ban đầu 1.
Định nghĩa sức khỏe Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội và không phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh hay thương tật18,19. Có một sức khỏe tốt nhất là một trong những quyền cơ bản con người dù thuộc bất kỳ chủng tộc, tôn giáo, chính kiến chính trị hay điều kiện kinh tế - xã hội nào20. Các yếu tố quyết định sức khoẻ Theo định nghĩa của tổ chức Y tế thế giới, các yếu tố chính quyết định đến sức khỏe gồm 3 yếu tố chính là môi trường kinh tế và xã hội, môi trường vật lý, và đặc điểm và ứng xử của mỗi cá nhân. Cụ thể hơn trong khuôn khổ nghiên cứu này, có thể phân tách thành các yếu tố như sau22,23: 7 - Thu nhập và địa vị xã hội: Thu nhập cao và có địa vị xã hội có liên quan tới việc có được sức khỏe tốt hơn.
Khoảng cách giàu nghèo càng lớn, thì sự khác biệt về sức khỏe càng nhiều. - Giáo dục: Trình độ học vấn thấp liên quan tới sức khỏe kém hơn, căng thẳng và tự ti xuất hiện nhiều hơn. - Tình trạng việc làm: Người có việc làm ổn định và kiểm soát được công việc của họ sẽ có sức khỏe tốt hơn người thất nghiệp hay công việc bấp bênh. - Môi trường xã hội: Sự hỗ trợ xã hội rất quan trọng trong việc mở ra một cộng đồng lớn hơn.
Sức khỏe của một cá nhân liên quan tới sức mạnh của cả cộng đồng, một khu vực, thậm chí là cả quốc gia. Điều này được phản ánh rõ ràng trong môi trường cơ quan, các tổ chức, nơi mà mọi người chia sẻ nguồn lực và có các mối ràng buộc, gắn kết lẫn nhau. - Môi trường vật lý: bao gồm các yếu tố như nhà cửa an toàn, giao thông thuận tiện. Tất cả đều đóng góp cho sức khỏe tốt hơn.
- Phát triển sức khỏe trẻ em: Đã có những bằng chứng trong mối liên quan giữa kinh nghiệm đầu đời với sự phát triển não bộ, tính sẵn sàng tới trường và sức khỏe của trẻ sau này. Sự phát triển của một đứa trẻ có thể bị ảnh hưởng rất nhiều bởi gia đình, hàng xóm, thu nhập gia đình, trình độ họ vấn cha mẹ, hay chăm sóc y tế. - Dịch vụ chăm sóc sức khỏe: Sức khỏe của một người bị ảnh hưởng trực tiếp bởi phương pháp tiếp cận và sử dụng các dịch vụ phòng ngừa và điều trị bệnh. - Văn hóa: phong tục, truyền thống và tín ngưỡng của gia đình và cộng đồng đều ảnh hưởng đến sức khỏe.
- Tuyến y tế xã: bao gồm y tế xã và y tế thôn. Các chỉ số sức khỏe cơ bản Những năm gần đây, tình trạng sức khỏe người dân Việt Nam ðã được cải thiện đáng kể, trong đó có nhiều chỉ số đạt cao hõn so với các nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người. Tuy nhiên, một số chỉ số sức khỏe cơ bản còn đạt ở mức thấp và có sự chênh lệch khá rõ rệt giữa các vùng, miền hay điều kiện kinh tế. 8 Phần dưới đây đánh giá tình trạng sức khỏe nhân dân dựa vào một số chỉ số cơ bản, như: tuổi thọ trung bình (kỳ vọng sống khi sinh); tỷ số tử vong mẹ; tỷ suất tử vong trẻ em; tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em; tỷ lệ mắc và tử vong do một số bệnh, dịch2.
Sự khác biệt có thể do sự tiếp cận công tác CSSKBĐ khác nhau giữa các vùng miền, tình trạng kinh tế hay xã hội: - Tuổi thọ trung bình: Theo số liệu ước tính từ tổng cục thống kê, năm 2013, người dân Việt Nam đạt tuổi thọ trung bình là 73,1. Theo số liệu thông kê của Liên hiệp quốc giai đoạn 2005 - 2010, tuổi thọ trung bình của Việt Nam cao hơn nhiều quốc gia, kể cả những quốc gia giàu có như Trung Quốc, Malaysia hay Thái Lan23. - Tỷ số tử vong mẹ: Ước tính số tuyệt đối năm 2013, Việt Nam có 690 phụ nữ tử vong liên quan với mang thai và sinh đẻ với tỷ số tử vong mẹ ước tính là 49/100 000 trẻ đẻ ra sống2. - Tỷ suất tử vong trẻ em: Tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi đă giảm từ 44,4 trên 1000 trẻ đẻ sống năm 1990 xuống c ̣òn 15,4 vào năm 20122.
Như vậy, chỉ cần giảm 0,6 điểm phần nghìn để đạt mục tiêu 14,8 trên 1000 trẻ đẻ sống vào năm 2015, và khả năng sẽ đạt mục tiêu đúng hạn. Tỷ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi đă giảm từ 58 trên 1000 trẻ đẻ sống năm 1990 xuống còn 23,2‰ vào năm 20126. - Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi: Năm 2013, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi ở Việt Nam bị suy dinh dưỡng thể thiếu cân là 15,3% và thể thấp còi là 25,9%51; đứng thứ 4 về tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng thể thiếu cân và đứng thứ 6 về tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi so với các nước tham khảo52. Định nghĩa CSSKBĐ CSSKBĐ là những chăm sóc sức khoẻ thiết yếu, bằng các phương pháp và kĩ thuật thực hành có cơ sở khoa học, có thể tới được mọi người, mọi gia đình trong cộng đồng, được họ chấp nhận và tích cực tham gia, với mức chi phí mà nhân dân và Nhà nước có thể cung ứng được, phát huy tính tự lực, tự quyết của mọi người dân24.
9 Quan niệm hiện đại về CSSKBĐ nhấn mạnh việc đổi mới hệ thống y tế nhằm bảo đảm khả năng tiếp cận toàn dân, mở rộng sự quan tâm tới tất cả các nguy cơ và bệnh tật, có sự đầu tư thỏa đáng hơn, kết hợp dự phòng và điều trị, thay vì tiếp cận gói can thiệp y tế cơ bản và thuốc thiết yếu cho người nghèo; tập trung chăm sóc bà mẹ và trẻ em; tập trung chủ yếu vào bệnh truyền nhiễm và cấp tính; đối lập với chăm sóc bệnh viện, v. Tuy nhiên, CSSKBĐ vẫn được coi là nơi tiếp xúc đầu tiên của người dân với hệ thống y tế và là yếu tố đầu tiên của quá trình bao phủ CSSK toàn dân. Như vậy, nội dung CSSKBĐ sẽ không hoàn toàn giống nhau ở các nước trong cùng một thời điểm và ngay trong một nước ở các vùng và các thời điểm khác nhau. Nội dung CSSKBĐ cần được thay đổi theo thời gian hoặc theo địa lý để phù hợp với tình hình sức khoẻ, bệnh tật và trình độ văn hoá của nhân dân cũng như hoàn cảnh kinh tế của mỗi nước, mỗi địa phương trong từng thời điểm khác nhau.
CSSKBĐ là một chiến lược hay một giải pháp nhấn mạnh tới sự phát triển phổ cập các dịch vụ y tế. Các dịch vụ này người dân chấp nhận được, cố gắng chi trả được, có thể tiếp cận được, dựa vào cộng đồng và coi trọng việc nâng cao, duy trì sức khoẻ cho nhân dân. Các nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu 1. Nhận thức về chăm sóc sức khoẻ Sự khác biệt cơ bản về nhận thức chăm sóc sức khoẻ sau Hội nghị Alma Ata là sự chuyển biến về quan niệm cũ cho rằng sức khoẻ là trạng thái không có bệnh sang quan niệm mới là trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần, xã hội và không bệnh tật.
Từ đó dẫn đến sự thay đổi về nội dung chăm sóc sức khoẻ, về đối tượng cần chăm sóc sức khoẻ, về trách nhiệm của người cán bộ y tế, về vai trò của từng người nhân, từng ban ngành trong xã hội trong việc phấn đấu không ngừng nâng cao sức khoẻ cho cá nhân, cho cộng đồng và cho xã hội. Sự khác biệt cơ bản về nhận thức chăm sóc sức khoẻ được tóm tắt như sau: 10 Bảng 1. Mô tả Sự khác biệt cơ bản về nhận thức chăm sóc sức khoẻ Nội dung Nhận thức cũ về CSSK Nhận thức mới về CSSK Thoải mái về thể chất, tinh Quan niệm về sức khoẻ Không có bệnh thần, xã hội và không có bệnh tật. Nội dung chăm sóc sức Dự phòng tích cực, chăm Nặng về chữa bệnh khoẻ sóc toàn diện.
Đối tượng chăm sóc sức Cộng đồng: người khoẻ và Cá thể: người ốm là chính khoẻ người ốm Trách nhiệm của Y tế Toàn dân, toàn xã hội Chủ động: – Tự bảo vệ mình; Vai trò của người dân Thụ động: ỷ lại vào y tế – Cùng tham gia bảo vệ cộng đồng Hoạt động của y tế tách rời Y tế là một bộ phận lồng Tính chất hoạt động với hệ thống kinh tế – xã ghép trong hệ thống kinh tế hội – xã hội Nội dung chăm sóc sức Dự phòng tích cực, chăm Nặng về chữa bệnh khoẻ sóc toàn diện. *Nguồn: (website: chiaseykhoa.com/2015/10/04/cham-soc-suc-khoe-ban-dau/) 1. Nội dung CSSKBĐ theo Tuyên ngôn Alma Ata gồm 8 điểm (ELEMENTS)53,54 - Giáo dục sức khỏe (Education): là một trong những nội dung quan trọng nhất của chăm sóc sức khỏe ban đầu. Bằng cách giáo dục và khuyến khích cộng đồng tham gia công tác phòng chống và kiểm soát bệnh tật của TCYTTG.
11 - Phòng chống các bệnh dịch tại địa phương (Local disease control): Phòng ngừa và kiểm soát bệnh dịch lưu hành tại địa phương là rất quan trọng để thúc đẩy chăm sóc sức khỏe ban đầu trong một quần thể. Nhiều căn bệnh khác nhau đã phát triển trên các địa điểm này. Theo dõi tình hình bệnh và bắt đầu các biện pháp để ngăn chặn chúng là những yếu tố quan trọng trong nỗ lực giảm tỷ lệ lây nhiễm trong cộng đồng.