CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm 1. Người cao tuổi Đại hội thế giới về người cao tuổi tại Viên (1982) đã thống nhất: công dân từ 60 tuổi trở lên được xếp vào nhóm NCT. Tại Việt Nam, Quốc hội ban hành Pháp lệnh Người cao tuổi (4/2000) và Luật Người cao tuổi (11/2009) quy định những người từ 60 tuổi trở lên (không phân biệt giới tính) là người cao tuổi [34], [36].
Dịch vụ y tế và dịch vụ khám chữa bệnh Dịch vụ y tế: Theo Tổ chức Y tế thế giới, dịch vụ y tế (DVYT) bao gồm tất cả các dịch vụ liên quan đến phòng bệnh, chẩn đoán và điều trị bệnh hoặc chương trình nâng cao, cải thiện và phục hồi sức khỏe. Chúng bao gồm các DVYT cá nhân và không cá nhân, DVYT là những chức năng dễ thấy nhất của bất kỳ hệ thống y tế nào, cho cả những người sử dụng nói riêng và cộng đồng nói chung. KCB là một trong những cấu phần quan trọng của DVYT [64]. Khám chữa bệnh: Theo Luật khám chữa bệnh của nước ta, khám bệnh là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể, khi cần thiết thì chỉ định phương pháp điều trị phù hợp đã được công nhận.
Chữa bệnh là việc sử dụng phương pháp y học và thuốc đã được phép lưu hành để cấp cứu, điều trị, chăm sóc, phục hồi chức năng cho người bệnh [36]. Sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh: Là khả năng những người khi có tình trạng sức khỏe bất thường hoặc khi có nhu cầu đến KCB được mua thuốc hay sử dụng bất cứ hình thức cung cấp dịch vụ KCB nào do các CSYT công lập hay y tế tư nhân cung cấp [47]. Tình hình sức khỏe, ốm đau của người cao tuổi Theo kết quả điều tra biến động dân số và nguồn nhân lực năm 2010 của Tổng cục Thống kê, số NCT Việt Nam là 8,15 triệu trong tổng số 86,75 triệu người, chiếm 9,4% dân số cả nước [45]. Xu hướng già hóa dân số đang đặt ra cho nước ta 6 những thách thức lớn trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho NCT trong cộng đồng.
Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa: “Sức khỏe là trạng thái thoải mái hoàn toàn về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật và tàn phế” [63]. Trên thực tế, nếu chiếu theo định nghĩa này NCT khó có thể đạt được tình trạng có “sức khỏe”. Trong cộng đồng, khi được hỏi về tình hình sức khỏe hiện tại, hầu hết NCT đánh giá tình trạng sức khỏe bản thân dựa trên tình trạng sức khỏe thể chất, nghĩa là dựa trên tình trạng có thường xuyên ốm đau hay có tàn tật hay không. Đặng Xuân Tin qua phỏng vấn 1534 NCT tại Hải Phòng năm 2005 thấy rằng có gần 45% NCT tự cảm thấy sức khỏe hiện tại ở mức tốt và trung bình.
Trong đó, có 47,7% cụ ông đánh giá sức khỏe tốt, tỷ lệ đánh giá sức khỏe tốt của các cụ bà chỉ có 41%. Nhóm 60 – 79 tuổi có 45% đánh giá sức khỏe tốt, trong khi ở nhóm trên 80 tuổi chỉ có 33,2% [43]. Cũng trong năm 2005, một nghiên cứu khác tại Lương Sơn - Hòa Bình, bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp, tác giả Trần Văn Điềm đã chỉ ra tỷ lệ NCT là người dân tộc Mường, Dao tự đánh giá sức khỏe ở mức tốt và trung bình là 57,6%, khoảng 38% số cụ NCT cho biết sức khỏe ở mức yếu và 4,4% ở mức rất yếu [19]. Năm 2011, nghiên cứu cắt ngang tìm hiểu thực trạng sử dụng dịch vụ y tế của NCT không có bảo hiểm y tế (BHYT) tại xã Lam Điền – Hà Nội của tác giả Phạm Đăng Hưng phát hiện 19,4% NCT tự đánh giá sức khỏe ở mức khỏe mạnh, 65,7% ở mức trung bình và ở mức yếu là 14,9% [24].
Trong một nghiên cứu đánh giá về tình hình sức khỏe của NCT tại phường Phương Mai – Hà Nội nhưng dựa trên thăm khám lâm sàng của Viện Lão khoa cho thấy có 34,9% các cụ khỏe mạnh, trong đó các cụ ông khỏe mạnh hơn cụ bà (41,7% so với 29,8%) [52]. Mới đây nhất, Báo cáo kết quả Điều tra Quốc gia về NCT Việt Nam (VNAS) năm 2011 cho chúng ta một cái nhìn bao quát hơn về tình hình sức khỏe NCT nước ta hiện nay: Theo NCT tự đánh giá, có tới trên 50% cho rằng tình trạng sức khỏe hiện tại là yếu hoặc rất yếu, tỷ lệ này không có sự khác biệt về giới và khu vực sống; không quá 10% NCT ở các lứa tuổi, cả nam và nữ, cả sống ở nông 7 thôn và thành thị tự đánh giá sức khỏe là tốt hoặc rất tốt. Tuy nhiên tỷ lệ NCT nữ và NCT sống ở thành thị tự đánh giá có sức khỏe rất tốt cao hơn một cách có ý nghĩa so với NCT nam và NCT sống ở nông thôn [23]. Tình hình mắc bệnh mạn tính Bệnh lý ở người già có nhiều đặc điểm khác so với các nhóm tuổi khác, phản ánh hậu quả của quá trình lão hóa và những thói quen thời trẻ.
Như ở người trẻ, các bệnh thường gặp là các bệnh cấp tính, bệnh nhiễm trùng thì ở người già thường gặp chủ yếu là các các bệnh mạn tính, bệnh thoái hóa và người già thường mắc nhiều bệnh cùng một lúc [32]. Các trường hợp ốm đau trong nhiều trường hợp là đợt cấp của một bệnh mạn tính nào đó, tính chất đa bệnh lý và âm thầm làm cho bệnh khó chẩn đoán và phát hiện, khả năng phục hồi kém…Vì vậy, nếu bệnh không được phát hiện, chăm sóc và điều trị tích cực, kịp thời có thể dễ dẫn đến tình trạng sức khoẻ giảm sút và tử vong [2]. Ở Việt Nam, tỷ lệ NCT mắc các bệnh mạn tính có xu hướng ngày càng gia tăng đặc biệt trong những năm gần đây, các bệnh liên quan tới tim, cơ xương khớp, các bệnh chuyển hóa có diễn biến phức tạp. Theo nghiên cứu của bệnh viện Lão khoa trung ương, qua thăm khám thực thể, trung bình một người già mắc gần 3 bệnh mạn tính, đa số các bệnh này đều liên quan đến lối sống và nói chung phải điều trị suốt đời [52].
Theo Báo cáo tổng quan về chính sách chăm sóc người già thích ứng với thay đổi cơ cấu tuổi tại Việt Nam năm 2009, trong khoảng 82 triệu NCT Việt Nam thì có tới 6,7 triệu người bị tăng huyết áp. Tỷ lệ người mắc bệnh đái tháo đường là 2,7%, tại các thành phố lớn là 4,4%, trong đó 64% người mắc bệnh đái tháo đường không được phát hiện. Với bệnh ung thư, mỗi năm có khoảng 100.000 bệnh nhân ung thư mới mắc và 75.000 người chết vì ung thư và con số này có xu hướng ngày càng gia tăng [54]. Khi thăm khám thực thể, tác giả Trần Đức Thọ và cộng sự tại Viện Lão khoa phát hiện 62% NCT tại phường Phương Mai có bệnh tật mạn tính nhưng không ảnh hưởng đến hoạt động hằng ngày [52].
Với phương pháp khác là phỏng vấn trực tiếp, trong nghiên cứu của tác giả Dương Việt Anh (2010) tại xã Tả Thanh Oai - Thanh 8 Trì, có 61,5% NCT có triệu chứng bệnh/bệnh mạn tính và gây ảnh hưởng đến sinh hoạt hằng ngày [1]; tỷ lệ này trong nghiên cứu của tác giả Trần Văn Điềm (2005) là 64,8% [19]. Cũng theo nghiên cứu của Dương Việt Anh, NCT tại xã Tả Thanh Oai đã mắc phải bệnh mạn tính thuộc nhóm cơ – xương – khớp nhiều nhất (35,5%), sau đó là các bệnh thuộc nhóm hô hấp (24,7%), tiêu hóa (10,8%), thần kinh (6,0%) và tuần hoàn (4,2%) [1]. Tác giả Dương Huy Lương khi tìm hiểu tình hình ốm đau và sử dụng DVYT của NCT ở một số điểm nghiên cứu thuộc phường Thanh Lương, Xuân Đỉnh – Hà Nội, qua phỏng vấn 288 NCT đã phát hiện tỷ lệ mắc bệnh mạn tính của NCT ở đây là 46%. Trong đó, các triệu chứng và bệnh mạn tính hay gặp là: đau khớp 20,3%; hô hấp 18,8%; tiêu hóa 14,5%; tăng huyết áp 13,0% [29].
Điều tra Đánh giá tình hình chăm sóc sức khỏe cho NCT ở Việt Nam do nhóm tác giả thuộc Viện Chiến lược và Chính sách y tế thực hiện trên quy mô khá bao quát với việc thu thập số liệu từ phỏng vấn 1.132 hộ gia đình có NCT tại 7 tỉnh thuộc 7 vùng trong cả nước. Kết quả cho thấy: khoảng 70% số NCT cho biết có mắc triệu chứng/bệnh mạn tính. Triệu chứng/bệnh mạn tính thường gặp ở NCT là đau khớp (42%), tăng huyết áp (28%), đau lưng (21%) và bệnh về mắt (25%). Bệnh không nhiễm trùng có xu hướng trở nên phổ biến ở khu vực nông thôn [18].
Năm 2011, Điều tra Quốc gia về NCT hoàn thành đã cung cấp một cơ sở dữ liệu quan trọng, bao quát và đại diện cho tình hình NCT nước ta hiện nay. Về tình trạng mắc bệnh mạn tính, điều tra đã thống kê được gần 40% NCT có chẩn đoán bệnh huyết áp, trên 30% NCT được chẩn đoán viêm khớp, tiếp theo đó là một số bệnh như tim mạch, răng miệng, viêm phế quản hoặc phổi mãn tính (tỷ lệ mắc các bệnh này ở NCT không quá 20%). NCT nữ có tỷ lệ mắc các bệnh viêm khớp, bệnh huyết áp và bệnh tim cao hơn một cách có ý nghĩa so với NCT nam [23].Tình hình ốm/bệnh trong 4 tuần qua Tỷ lệ NCT ốm trong thời gian 4 tuần trước thời điểm nghiên cứu theo điều tra Đánh giá tình hình chăm sóc sức khỏe cho NCT ở Việt Nam năm 2007 là 60% [18]. Điều tra đã chỉ ra mô hình ốm cấp tính ở người cao tuổi chủ yếu là các bệnh 9 thông thường như đau đầu, chóng mặt, ho, đau khớp, đau lưng và tăng huyết áp.
Khoảng gần 20% NCT trong diện điều tra cho biết bị tăng huyết áp trong thời gian 4 tuần trước thời điểm điều tra. Tỷ lệ này ở hai tỉnh Ninh Thuận và Vĩnh Long cao gấp 3 lần tỷ lệ ở tỉnh Hải Dương. Bệnh viêm nhiễm về mắt xuất hiện với tỷ lệ cao ở NCT tỉnh Ninh Thuận. Ngoài ra, theo nghiên cứu này, tuổi là một yếu tố được phát hiện có mối liên quan chặt chẽ với tình trạng sức khỏe và tỷ lệ ốm tăng dần theo nhóm tuổi [18].
Trong một nghiên cứu khác của tác giả Dương Minh Tâm tại Long An cũng tìm ra một tỷ lệ tương đương với khoảng 62,7% bị ốm trong thời gian 4 tuần qua [39].