ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh THA là một bệnh mãn tính phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam, là mối đe dọa rất lớn đối với sức khỏe của con người, là nguyên nhân gây tàn phế và tử vong hàng đầu ở người cao tuổi.Theo số liệu thống kê của tổ chức Y tế Thế Giới (WHO),THA ảnh hưởng đến sức khỏe của hơn 1 tỷ người trên thế giới và là yếu tố nguy cơ (YTNC) tim mạch quan trọng nhất liên quan đến bệnh mạch vành, suy tim, bệnh mạch máu não và bệnh thận mãn tính[22].Ước tính, mỗi năm trên thế giới có khoảng 9,4 triệu trường hợp tử vong do các biến chứng của THA. Cùng với sự gia tăng và già hoá dân số, số người bị THA không kiểm soát tăng lên từ 600 triệu năm 1980 đến gần 1 tỷ năm 2008. Con số này được dự đoán sẽ tiếp tục tăng và đạt khoảng 1,56 tỷ người năm 2025[22]. Tại Việt Nam,tần suất THA ở người lớn ngày càng gia tăng.Trong những năm 1960 tỷ lệ THA là khoảng 1%, năm 1992 là 11,2%, năm 2001 là 16,3% và năm 2005 là18,3%.
Theo một điều tra gần đây nhất (2008) của Viện Tim mạch Việt Nam tiến hành ở người lớn (≥ 25 tuổi) tại 8 tỉnh và thành phố của nước ta thì thấy tỷ lệ THA đã tăng lên đến 25,1% nghĩa là cứ 4 người lớn ở nước ta thì có 1 người bị THA. Nếu không có các biện pháp dự phòng và quản lý hữu hiệu thì đến năm 2025 sẽ có khoảng 25 triệu người Việt Nam bị THA[22],[41]. THA và các biến chứng của THA có thể phòng được thông qua việc điều trị phù hợp đối với từng giai đoạn của THA như phát hiện bệnh sớm, sử dụng thuốc kết hợp với thay đổi lối sống tích cực hơn. Tuy nhiên,kiến thức cũng như việc thực hành kiểm soát THA của người dân còn nhiều hạn chế.
Trong số những người bị THA thì có tới 52% (khoảng 5,7 triệu người) là không biết mình bị THA, 30% (khoảng 1,6 triệu người) người biết bị THA nhưng không có một biện pháp điều trị nào và 64% (khoảng 2,4 triệu người) người đã điều trị THA nhưng vẫn chưa đạt HA mục tiêu. Theo nghiên cứu của Bùi Thị Thanh Hòa năm 2012 ở bệnh nhân THA điều trị ngoại trú tại bệnh viện E, Hà Nội cho thấy có tới 32,4% người bị THA không biết về dấu hiệu của THA, 68,1% ĐTNC không có kiến thức về các YTNC của THA, và 43,4% ĐTNC chưa có kiến thức đúng về lối sống tích cực cho người THA để phòng tránh biến chứng. Điều này cho thấy còn rất nhiều người bị THA 2 nhưng vẫn chưa được trang bị những kiến thức cần thiết hay có những biện pháp hiệu quả để kiểm soát huyết áp của mình[5]. Bệnh viện đa khoa huyện Tân Yên là bệnh viện đa khoa tuyến huyện, hiện tại bệnh viện đang quản lý 3055 bệnh nhân THA điều trị ngoại trú, đang sinh sống trong địa bàn huyện gồm 24 xã và thị trấn.
Theo báo cáo tình hình quản lý điều trị ngoại trú THA của bệnh việnnăm 2014 thì có 2980 bệnh nhân đang điều trị và trong số đó có 368 bệnh nhân có biến chứng (tương đương 12,34%).Qua phỏng vấn nhanh 15 bệnh nhân đến khám tại bệnh viện thì chỉ có 5 bệnh nhân có hiểu biết đúng về THA, các biến chứng của THA và cách phòng tránh biến chứng của THA. Câu hỏi được đặt ra là: Kiến thức, thực hành về phòng biến chứng THA của bệnh nhân THA đang được điều trị ngoại trú ở bệnh viện đa khoa huyện Tân Yên ra sao? Những yếu tố nào liên quan đến việc phòng biến chứng THA của bệnh nhân THA đang điều trị ngoại trú ở bệnh viện đa khoa Tân Yên?Kiến thức và thực hành của bệnh nhân THA có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát THA, phòng ngừa các biến chứng của THA. Kiến thức không đầy đủ về THA là nguyên nhân bệnh nhân không tuân thủ dùng thuốc hạ huyết áp dẫn tới tỷ lệ THA không kiểm soát được cao [49]. Những bệnh nhân có kiến thức tốt về bệnh của họ sẽ thực hành theo dõi huyết áp tại nhà tốt hơn, cải thiện đáng kể việc tuân thủ thuốc và kiểm soát HA[35].
Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Kiến thức, thực hành phòng biến chứng tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa huyện Tân Yên, Bắc Giang năm 2015”. Kết quả của nghiên cứu sẽ góp phần đưa ra các bằng chứng khoa học về thực trạng nhận thức, thực hành phòng biến chứng THA của bệnh nhân THA. Từ đó, làm cơ sở cho các can thiệp nhằm cải thiện tình trạng sức khỏe của bệnh nhân THA đang điều trị tại bệnh viện cũng như trong cộng đồng. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả kiến thức về phòng biến chứng THA ở bệnh nhân tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại bệnh viên đa khoa huyện Tân Yên, Bắc Giang năm 2015. Mô tả thực hành về phòng biến chứng THA ở bệnh nhân tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa huyện Tân Yên, Bắc Giang năm 2015. Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng biến chứng THA ở bệnh nhân tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa huyện Tân Yên, Bắc Giang năm 2015 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm và thông tin về tăng huyết áp.
Khái niệm về huyết áp Huyết áp (HA) là áp lực máu động mạch do tim co bóp đẩy máu từ thất trái vào hệ động mạch, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của lực cản thành động mạch. Kết quả làm cho máu được lưu thông đến các tế bào để cung cấp oxy và các chất dinh dưỡng cho nhu cầu cơ thể. Khi tim co bóp tống máu, áp lực động mạch tăng lên đạt mức cao nhất gọi là huyết áp tâm thu (HATT) hay HA tối đa. Khi tim nghỉ, áp lực đó xuống đến mức thấp nhất gọi là huyết áp tâm trương (HATTr) hay HA tối thiểu[3].
Định nghĩa và phân loại tăng huyết áp Định nghĩa tăng huyết áp Theo WHO, một người lớn bị tăng huyết áp (THA) thực sự khi HA tối đa, HA tâm thu (HATT) ≥ 140 mmHg và/hoặc HA tối thiểu, HA tâm trương (HATTr) ≥ 90 mmHg hoặc đang điều trị thuốc hạ áp hàng ngày hoặc có ít nhất 2 lần được bác sĩ chẩn đoán là THA[51]. THA là một triệu chứng của nhiều bệnh, nhiều nguyên nhân nhưng cũng có thể là một bệnh THA nếu không tìm ra nguyên nhân. Đây không phải là tình trạng bệnh lý độc lập mà là một rối loạn với nhiều nguyên nhân, các triệu chứng đa dạng và do đó đáp ứng với điều trị cũng rất khác nhau. Phân loại tăng huyết áp Trongnhữngnămgần đây,phân loại THA cũng có nhiều thay đổi.
Theo Liên ủy quốc gia về dự phòng, phát hiện, đánh giá và điều trị THA (JNC – Join National committee) lần thứ VI thì THA được chia như sau[36].1: Phân loại tăng huyết áp theo JNC VI (1997) Huyế t áp tâm thu Huyế t áp tâm trƣơng Phân loại THA (mmHg) (mmHg) Huyết áp tối ưu <120 Và <80 Huyết áp bình thường <130 Và <85 Huyết áp bình thường cao 130 – 139 Hoặc 85 – 89 THA Đô ̣ 1 140 – 159 Hoặc 90 – 99 THA Đô ̣ 2 160 – 179 Hoặc 100 – 109 THA Đô ̣ 3 ≥ 180 Hoặc ≥ 110 Năm 2003,Liên ủy quốc gia về dự phòng, phát hiện, đánh giá và điều trị THA (JNC – Join National committee) lần thứ VII thì THA được chia như sau[37].2: Phân loại tăng huyết áp theo JNC VII (2003) Phân loại THA HA tâm thu (mmHg) HA tâm trƣơng (mmHg) HA bình thường < 120 Và < 80 Tiền THA 120 – 139 Hoặc 80 – 89 THA giai đoạn I 140 – 159 Hoặc 90 – 99 THA giai đoạn II ≥ 160 Hoặc ≥ 100 Theo phân loại của JNC VII: Chỉ số HA bình thường ở JNC VI là < 140/90 mmHg, ở JNC VII hạ xuống còn 120/80 mmHg. Các chỉ số HA 120 – 139/80 – 89 không còn được coi là HA bình thường mà gọi là tiền THA. THA giai đoạn I vẫn được giữ nguyên là 140 – 159/90 – 99 mmHg. Ở JNC VII bỏ qua khái niệm HA bình thường cao.
THA giai đoạn II, III nay được JNC VII gộp lại thành THA giai đoạn II, HATT ≥ 160 mmHg hoặc HATTr ≥ 100 mmHg, vì tỷ lệ biến chứng không khác nhau rõ ràng và thái độ xử trí thì giống nhau. Năm 2010, Bộ Y tế ban hành“Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị THA”. Theo đó, THA được phân loại như sau[1].3: Phân độ tăng huyết áp của Bộ Y tế Việt Nam Phân độ huyết áp Huyế t áp tâm thu Huyế t áp tâm trƣơng HA tối ưu < 120 Và < 80 HA bình thường 120 – 129 Và/ Hoặc 80 – 84 Tiền THA 130 – 139 Và/ Hoặc 85 – 89 THA đô ̣ 1 140 – 159 Và/ Hoặc 90 – 99 THA đô ̣ 2 160 – 179 Và/ Hoặc 100 – 109 THA đô ̣ 3 ≥ 180 Và/ Hoặc ≥ 110 THA tâm thu đơn độc ≥ 140 Và < 90 Như vậy, phân độ HA của bộ Y tế Việt Nam (2010) gần giống với JNC VI (1997). Chỉ khác là: Ở phân độ của bộ Y tế thay tên HA bình thường cao bằng tiền THA, nhưng chỉ số thì vẫn không đổi 120 – 139 mmHg hoặc 85 – 89 mmHg và ở phân độ HA của bộ Y tế có thêm khái niệm THA tâm thu đơn độc HATT ≥ 140 mmHg, HATTr < 90 mmHg.
THA là một bệnh mà không phải lúc nào cũng tìm ra nguyên nhân. Vì vậy người ta phân ra làm 2 loại: THA nguyên phát: Là các trường hợp THA không tìm thấy nguyên nhân, gọi là bệnh THA. Bệnh THA chiếm tới 90 – 95% trong tổng số người bị THA. Các nhà khoa học nhận thấy có một số yếu tố tác động, phối hợp gây bệnh và liên quan đến sự hình thành, tiến triển của THA nguyên phát, còn được gọi là yếu tố nguy cơ như: Ăn mặn, béo phì, uống nhiều rượu/bia, hút thuốc lá/thuốc lào, ít hoạt động thể lực…các yếu tố trên có thể phối hợp với nhau ngay trên cùng một bệnh nhân.
Càng nhiều yếu tố tác động phối hợp với nhau thì tiến triển của bệnh và nguy cơ tai biến do THA càng nhiều, tiên lượng của bệnh càng xấu. THA thứ phát: Là các trường hợp THA xảy ra do một bệnh khác, gọi là THA triệu chứng. Trong các trường hợp THA thứ phát, người ta tìm thấy nguyên nhân làm cho THA tăng cao, nếu được điều trị bệnh chính thì HA sẽ trở lại bình thường.