mở đầu cho sự bùng phát trở lại của các bệnh khác (18). Nhiều bằng chứng chỉ ra rằng ước tính hơn 24 triệu người đã được bảo vệ thông qua tiêm chủng 11 cho đến nay đang gặp rủi ro, vì khoảng 90 chiến dịch tiêm chủng hàng loạt đã bị hoãn lại (18-20). Với tỷ lệ bao phủ vắc xin tiếp tục giảm, các trường hợp bùng phát dữ dội của bệnh sởi, bạch hầu, ho gà và các bệnh có thể phòng ngừa bằng vắc-xin (VPD) đang thu hút sự quan tâm trong giới khoa học sức khỏe, và nhiều trường hợp bại liệt và bạch hầu đã được báo cáo trên khắp Pakistan và Afghanistan. Bệnh sởi đang gia tăng trên toàn cầu, bệnh sốt xuất huyết bùng phát ở các khu vực Mỹ Latinh và khu vực A- ma-dôn, và các quốc gia ở châu Phi đang phải đối mặt với sự bùng phát của bệnh sởi và Ebola (21).
Những đợt bùng phát này là một lời nhắc nhở rõ ràng rằng ngay cả trong thời kỳ đại dịch, những thách thức về sức khỏe cộng đồng cũng quan trọng không kém, nếu không muốn nói là đang dần trở nên nghiêm trọng hơn. COVID-19 gây ra sự cố tương tự đối với hệ thống tiêm chủng, tương lai của một cuộc đấu tranh gian khổ để ngăn ngừa tử vong do VPD đang bị đe dọa. Tại Việt Nam Ở Việt Nam, tất cả các TYT xã, phường đều triển khai vắc xin 5 trong 1 của chương trình TCMR, tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin luôn duy trì ở mức trên 90%; tuy nhiên tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch còn thấp. Một nghiên cứu tại huyện Phù Mỹ tỉnh Bình Định năm 2016 cho thấy tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin là 99% nhưng chủng đầy đủ và đúng lịch chỉ đạt 22,4% trong đó mũi BCG đạt 92,7%; tiêm mũi 1 DPT-VGB-Hib đạt 75,7%; tiêm mũi 2 DPT-VGB-Hib đạt 52,7%; tiêm mũi 3 DPT-VGB-Hib đạt 40,7%; uống OPV1 đạt 80,3%; uống OPV2 đạt 65%; uống OPV1 đạt 55,7%; sởi mũi 1 đạt 69,3%.
Một nghiên cứu khác tại huyện Tu Mơ Rông tỉnh Kon Tum năm 2016 cho thấy tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin là 95,4% nhưng tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch chỉ đạt 18,6%, trong 8 loại vắc xin thì OPV1 đạt tỷ lệ cao nhất với 61%, 59% là tỷ lệ VC DPT-VGB-Hib1, các mũi tiêm sau đó giảm dần với 53% cho Sởi 1, 40,5% cho DPT-VGB-Hib 3, riêng OPV 3 chỉ có 40% (22). Một nghiên cứu khác tại huyện An Dương thành phố Hải Phòng năm 2016 cho biết số trẻ được tiêm chủng đầy đủ là 64,8%; tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch là 51,9%, tỷ lệ từng mũi tiêm cũng thấp hơn so với các địa phương khác với BCG 69%, 12 Sởi 1 72%, DPT-VGB-Hib 1 là 52% , OPV1 là 55%, các liều tiêm sau đó tỷ lệ bỏ mũi rất cao, giảm từ 55% xuống 42% cho các mũi tiêm DPT-VGB-Hib 2 và DPT- VGB-Hib 3. Thực trạng Tiêm chủng đầy đủ đạt đến 96,27% là kết quả một nghiên cứu mà Trương Văn Dũng đã tiến hành tại huyện Châu Thành tỉnh Trà Vinh năm 2010 với 644 cặp bà mẹ và trẻ trong độ tuổi từ 10-6-36 tháng, tỷ lệ cao gấp 1,2 lần so với nghiên cứu của tác giả Đào Văn Khuynh tại huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau năm 2009 (23, 24). Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra con số trẻ tiêm chủng không đúng lịch chỉ có 22,36%, tỷ lệ này gần như bằng với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Tân là 24,7%.
Qua đó cho thấy tỷ lệ tiêm chủng có sự khác biệt và thay đổi theo từng địa bàn và khác nhau với từng loại vắc xin (25). Nhìn chung, công tác TCMR luôn luôn nhận được sự quan tâm, đầu tư của Chính phủ. Trang thông tin của Chương trình TCMR đưa thông tin rằng, từ năm 1993 đến năm 2016, gần 90% trẻ em dưới 1 tuổi ở Việt Nam được tiêm chủng đầy đủ theo khuyến cáo của chương trình TCMR (26). Việt Nam đã thành công trong việc thanh toán bệnh bại liệt vào năm 2000 và loại trừ bệnh uốn ván ở trẻ sơ sinh vào năm 2005 (26).
Tuy vậy, trong những năm gần đây, ở một số khu vực vẫn tiếp tục bùng phát các bệnh có thể phòng được bằng vắc xin. Ví dụ, kể từ đầu năm 2014, đã có gần 6.000 trường hợp mắc bệnh sởi được xác nhận ở các khu vực phía Bắc, trong đó hơn 86% chưa được chủng ngừa hoặc tình trạng tiêm chủng của họ chưa được xác nhận. Tỷ lệ bao phủ vắc xin sởi thấp này một phần có thể do các tác dụng phụ sau khi chủng ngừa (AEFI) bằng cách sử dụng vắc xin EPI miễn phí (27). Vì lo ngại về các biến cố bất lợi, một số phụ huynh đã tìm đến các loại vắc xin nước ngoài, mà họ tin rằng có chất lượng cao hơn.
Tuy nhiên, các loại vắc xin này luôn thiếu ở Việt Nam và sự thiếu hụt này đã làm chậm tiến độ tiêm chủng. Ngoài ra, việc tuân thủ “hoàn thành tiêm chủng kịp thời”, theo khuyến cáo của WHO, cũng có thể là một lý do khiến tỷ lệ tiêm chủng thấp. Báo cáo của WHO có tiêu đề “Tình trạng bất bình đẳng: Sức khỏe sinh sản, bà mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ em” chỉ ra rằng cả các yếu tố vi mô, chẳng hạn như đặc điểm của trẻ em và hộ gia đình, và các yếu tố vĩ mô, chẳng hạn như đặc điểm của hệ thống chăm sóc sức khỏe, chính sách, yếu tố địa lý và kinh tế, đóng góp vào phạm vi tiêm chủng (28). 13 Mặc cho những tác động đáng kể của đại dịch COVID-19 tới thói quen và lối sống của người dân nhưng nhờ có biện pháp kịp thời và quyết liệt, Việt Nam đã xử lý rất tốt dịch COVID-19 và kiểm soát khả năng lây nhiễm bệnh trong cộng đồng.
Ngay từ giai đoạn đầu phòng chống dịch, Việt Nam đã đẩy mạnh truyền thông nâng cao nhận thức của người dân về các phương pháp phòng chống dịch bệnh như đeo khẩu trang khi tiếp xúc với người khác, rửa tay sạch sẽ… Khi xuất hiện khả năng lây nhiễm trong cộng đồng, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ định 16/CT-TTg cách ly xã hội (29). Việt Nam được các nước trên thế giới đánh giá cao trong công tác phòng chống đại dịch COVID-19 (30-32). Mặc dù các biện pháp ứng phó của thế giới và Việt Nam làm giảm số ca lây nhiễm trong cộng đồng, nhưng vẫn có tác động tới tình trạng kinh tế và sức khỏe tinh thần của người dân. Nhiều nghiên cứu được tiến hành ngay trong thời gian dịch COVID-19 đã báo cáo về những thay đổi tâm lý với tình trạng tăng mức độ căng thẳng, lo lắng của dân số, đặc biệt khi giãn cách xã hội (33, 34).
Những tác động trên được báo cáo là ảnh hưởng tới việc thực hiện khám chữa bệnh không truyền nhiễm và việc tham gia tiêm chủng (35, 36). Một số yếu tố ảnh hưởng đến tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch ở trẻ dưới 1 tuổi Trên thế giới cũng như Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về tiêm chủng được thực hiện nhằm đánh giá độ bao phủ tiêm chủng trong cộng đồng, từ đó đưa ra các biện pháp can thiệp phù hợp với từng địa phương. “Ma trận các yếu tố quyết định tình trạng do dự tiêm vắc-xin” của WHO giúp phân loại các yếu tố theo ba lĩnh vực: ảnh hưởng theo bối cảnh, bao gồm các yếu tố hệ thống y tế và văn hóa xã hội; ảnh hưởng của cá nhân và nhóm, bao gồm cả những ảnh hưởng phát sinh từ nhận thức cá nhân về vắc xin; và các vấn đề cụ thể về vắc xin hoặc tiêm chủng, bao gồm các đánh giá của cá nhân về rủi ro và lợi ích cũng như ảnh hưởng của phương thức quản lý (37, 38). Theo đó, các nghiên cứu đó đã xác minh được một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch của trẻ dưới 1 tuổi như: Yếu tố thuộc về trẻ như bị ốm đúng ngày tiêm chủng, Yếu tố thuộc về người nuôi dưỡng như trình độ học vấn, nghề nghiệp, tuổi của người nuôi dưỡng, Yếu tố gia đình như số con trong gia đình, 14 thứ tự trẻ., kiến thức của bà mẹ như biết lịch tiêm chủng, lợi ích của tiêm chủng và yếu tố về Y tế, Cộng đồng/xã hội như truyền thông chưa đạt hiệu quả.
Đặc điểm của trẻ Yếu tố liên quan thường được chỉ ra do đặc điểm bản thân trẻ khiến đối tượng nghiên cứu không được tiêm chủng đúng lịch như giới, dân tộc, cân nặng. Một nghiên cứu của WHO về Tiêm chủng ra sự chênh lệch về tỷ lệ tiêm chủng giữa trẻ em trai và trẻ em gái (28). Nghiên cứu của tác giả Hồ Thị Ly Lan, năm 2019 được tiến hành trên 380 trẻ từ 12 đến 23 tháng tuổi tương ứng với 380 bà mẹ hoặc người chăm sóc chính của trẻ tại Phường Tân Lợi nhằm xác định tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ đúng lịch 8 loại vắc xin ở trẻ dưới 1 tuổi và một số yếu tố liên quan. Kết quả nghiên cứu cho thấy 95% trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ; tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ đúng lịch là 43,1%.
Nghiên cứu cũng chỉ ra dân tộc và giới của trẻ có liên quan tới thực trạng tiêm chủng đúng và đủ (25). Người chăm sóc trẻ và các thành viên trong gia đình 1. Yếu tố của người chăm sóc trẻ Nhóm Cố vấn Chiến lược của WHO về Tiêm chủng và các nhà nghiên cứu đã “phân tích chi tiết hơn về những trẻ em không được tiêm chủng” thông qua một loạt các cuộc điều tra về tỷ lệ hiện mắc và các yếu tố quyết định trẻ em không nhận được bất kỳ liều vắc-xin nào (14). Kết quả nghiên cứu cho thấy trình độ học vấn của bà mẹ thấp có liên quan đến việc chỉ tiêm chủng một phần (14, 28).
Một phân tích dữ liệu từ 96 quốc gia cho thấy tình trạng giáo dục thấp của người chăm sóc, chỉ số giàu có, tình trạng nhiễm độc tố uốn ván của người chăm sóc và việc ra quyết định liên quan đến việc điều trị là những yếu tố quyết định chính đến việc không được tiêm chủng (39). Nghiên cứu năm 2017 của nhóm tác giả ở 480 trẻ em 12-23 tháng tuổi tại đồng bằng Kwahu Afram, khu vực phía Đông, Ghana cho thấy tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ chiếm 81,3%, tiêm chủng một phần 16,7% và không được tiêm chủng 2,1% (40). Tính sẵn có của phiếu tiêm chủng, trình độ học vấn của các bà mẹ có liên quan 15 (p<0,05) với tình trạng tiêm chủng ở trẻ em.