Luận văn thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của người dân xã biên giới quảng trực huyện tuy đức tỉnh đắk nông năm 2019

Tài liệu nghiên cứu Luận văn thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của người dân xã biên giới quảng trực huyện tuy, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Y tế Công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

107
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại xã biên giới Quảng Trực Tuy Đức Đắk Nông năm 2019

Nghiên cứu thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại xã biên giới Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông năm 2019 cho thấy tỷ lệ người dân sử dụng dịch vụ y tế là 65,55%. Trong đó, dịch vụ khám chữa bệnh tại Trung tâm Y tế huyện chiếm 39,74% và tại Trạm Y tế xã chiếm 43,59%. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều người dân không sử dụng dịch vụ y tế do các lý do như chữa bệnh theo cách dân gian (32,05%), cơ sở y tế quá xa (25,64%) và thiếu phương tiện đi lại (16,67%).

1.1. Tình hình bệnh tật và sử dụng dịch vụ y tế

Tỷ lệ người ốm/bệnh trong vòng 4 tuần trước điều tra là 31,48%, với tỷ lệ tương đương giữa nam giới (31,55%) và nữ giới (31,40%). Mức độ ốm nhẹ chiếm 33,6%, ốm vừa chiếm 31,09%, và ốm nặng chiếm 24,37%. Các bệnh phổ biến bao gồm bệnh hô hấp (31,96%) và bệnh đường tiêu hóa (28,04%).

1.2. Yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh

Các yếu tố như giới tính, trình độ học vấn, thành phần kinh tế, khoảng cách địa lýphương tiện đi lại có ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh. Ví dụ, người dân ở các thôn xa trung tâm y tế có tỷ lệ sử dụng dịch vụ thấp hơn do khó khăn trong khám chữa bệnh.

II. Khó khăn và thách thức trong tiếp cận dịch vụ y tế

Người dân tại xã biên giới Quảng Trực gặp nhiều khó khăn trong khám chữa bệnh do địa hình phức tạp, phương tiện giao thông hạn chếthiếu nhân lực y tế. Ngoài ra, chất lượng dịch vụ y tế tại các cơ sở y tế cơ sở còn thấp, dẫn đến việc người dân không tin tưởng và lựa chọn chữa bệnh theo cách dân gian.

2.1. Địa hình và phương tiện đi lại

Địa hình hiểm trở và phương tiện đi lại thiếu thốn là những rào cản lớn đối với việc tiếp cận dịch vụ y tế. Nhiều người dân phải di chuyển hàng chục km để đến được bệnh viện hoặc trung tâm y tế, điều này làm giảm khả năng tiếp cận dịch vụ.

2.2. Chất lượng dịch vụ y tế

Chất lượng dịch vụ y tế tại các trạm y tế xã còn nhiều hạn chế, bao gồm thiếu trang thiết bị y tế, thuốc mennhân lực y tế có trình độ. Điều này khiến người dân không tin tưởng vào các dịch vụ y tế công và tìm kiếm các phương pháp điều trị khác.

III. Giải pháp và khuyến nghị

Để cải thiện thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại xã biên giới Quảng Trực, cần thực hiện các giải pháp như nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, đầu tư cơ sở hạ tầngtăng cường truyền thông y tế. Các chính sách hỗ trợ người dân tiếp cận dịch vụ y tế cũng cần được triển khai hiệu quả.

3.1. Nâng cao chất lượng dịch vụ y tế

Cần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế tại các trạm y tế xã bằng cách đầu tư trang thiết bị y tế, đào tạo nhân lực y tế và cung cấp đầy đủ thuốc men. Điều này sẽ giúp tăng niềm tin của người dân vào các dịch vụ y tế công.

3.2. Đầu tư cơ sở hạ tầng và phương tiện đi lại

Việc đầu tư cơ sở hạ tầng như đường xá và phương tiện đi lại công cộng sẽ giúp người dân dễ dàng tiếp cận các dịch vụ y tế. Đồng thời, cần xây dựng các trung tâm y tế gần hơn với các thôn xa trung tâm.

23/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm và thuật ngữ trong nghiên cứu - Khám bệnh Là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể, khi cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng để chân đoán và chỉ định phương pháp điều trị cho phù hợp đã được công nhận [67]. - Chữa bệnh Là việc sử dụng phương pháp chuyên môn kỹ thuật đã được công nhận và thuốc đã được phép lưu hành dé cap cứu, điều trị, chăm sóc, phục hồi chức năng cho người bệnh [67]. - Cơ sở khám chữa bệnh Là cơ sở y tế cố định hoặc lưu động đã được nhà nước công nhận có chức năng và cung cấp các dịch vụ khám chữa bệnh [67].

- Chi phi khám chữa bệnh Tiền công khám, cận lâm sảng, thủ thuật, phẫu thuật, tiền thuốc, tiền giường, và các chi phí khác có liên quan đến đợt khám chữa bệnh của nguoi ốm/bệnh [66]. - Ôm: Ôm là có các biểu hiện triệu chứng cơ năng do người dân tự nhận thấy qua sự cảm nhận của các triệu chứng.[12] - Bệnh: Bệnh được chân đoán bởi cơ sở y tế trong quá trình khám chữa bệnh của người dân. Nghiên cứu về fình hình ốm/bệnh trong vòng 4 tuần qua và thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh 1. Một số nghiên cứu về tình hình ốm/bệnh 1.

Các nghiên cứu về tình hình Õm/bệnh trên thế giới Gánh nặng bệnh được đo lường bởi các chỉ số: Số năm cuộc sống điều chỉnh theo mức độ tàn tật (DALY — Disability Adjusted Life Years), số năm sống chung voi bénh (YLD — Years Lived with Disability) va sé nim tiềm năng sống bị mất đi vì tử vong s6m (YLL — Year of Life Lost). Những nghiên cứu về đặc điểm, tình hình ốm/bệnh ở một số nước trên thé giới cho thấy: Nhỏi máu cơ tim, bệnh mạch máu não, và nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới là những lý do hàng đầu gây tử vong cho mọi lứa tuôi [47, 62].Theo nghiên cứu năm 2013 về gánh nặng toàn cầu về bệnh tật thì 5 bệnh cấp tính hàng đầu là: Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, tiêu chảy cấp, phơi nhiễm các chất hóa học, viêm tai giữa cấp tính, bệnh ngoài đa do vi khuân[49]. Tạp chí The Lancet hàng năm đều công bố về gánh nặng bệnh tật toàn cầu và Văn phòng Tổ chức y tế thế giới (WHO) khu vực Tây Thái Bình Dương hàng năm đều thống kê định kỳ về mô hình bệnh tật và tử vong nói chung cả 35 quốc gia và vùng lãnh thổ: YLD năm 2013 là 764. Điều này giúp cho việc nghiên cứu mô hình bệnh tật có hệ thống và dễ dàng so sánh giữa các quốc gia có thu nhập và đầu tư cho y tế khác nhau.

Các nghiên cứu về tình hình Ốm/bệnh tại Việt Nam Tỷ lệ ốm/bệnh của Tác giả Nguyễn Đình Hoàng và cộng sự (201 1) cho thấy tỷ lệ ốm chung của đối tượng nghiên cứu là 33,4% [38] trong khi đó một tác giả khác cũng cho kết cao hơn về tỷ lệ ốm/bệnh là 45,27% [37]. Một nghiên cứu mới đây tại 4 tỉnh Tây Nguyên của Tác giả Nguyễn Minh Hưng năm 2019 tại 28 xã biên giới thuộc 4 tỉnh Tây Nguyên cho thấy kết quả ốm/bệnh chung của từng tỉnh như Đắk Lắk 29,3%, Đắk Nông 30,24%, Gia Lai 28,96%, và Kom Tum 27,03%[20]. Theo kết quả nghiên cứu của Trần Đăng khoa nghiên cứu tại tỉnh Thanh Hóa thì tỷ lệ ốm/bệnh về giới thì người 6m/bénh ở nam giới (69,8%), nữ giới (30,2%), Một nghiên khác tại các huyện biên giới của tỉnh Đắk Lắk (2015) cũng cho thấy kết quả tỷ lệ ốm/bệnh của nữ giới cao hơn nam giới. Tỷ lệ ốm của nữ chiếm 53,20%, của nam giới chiếm 46,80% số ca ốm/bệnh trong vòng 4 tuần trước điều tra [15] và nghiên cứu của Nguyễn Minh Hưng cho thấy tại tỉnh Đắk Lắk (nữ 53,39%, nam 46,61%), Đắk Nông (nữ 53,77%, nam 46,23%), Gia Lai (nữ 54, 31%, nam 46,69% va Kom Tum ( nữ 51,76%, nam 48,24%) [20].

Tỷ lệ ốm theo nhóm tuổi thì theo Trần Đăng Khoa nhóm tuổi từ 60 tuôi trở lên (23,0%), nhóm 15-59 tuổi (9,0%), nhóm 0-5 tuổi (3,8%), nhóm 6-14 tuổi (1%)[39], két quả điều tra tỷ lệ ốm/bệnh theo nhóm tuôi ở cả cộng đồng cho thấy ty lệ cao nhất ở nhóm trẻ em dưới 6 tuổi, chiếm 36,19% và ở nhóm 6 - 19 tuổi là 16,88%, ở nhóm người già trên 60 tuôi là 15,73% [15]. Mức độ ốm: Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thắng (năm 2017) tổng số 25.849 thành viên thuộc 6.152 hộ gia đình được điều tra có 6.560 người báo cáo có bị ốm/bệnh trong 4 tuần [35], trong tổng số 7.716 lượt ốm/bệnh của 6.560 người báo cáo bị ốm/bệnh thì tỷ lệ lượt ốm nặng chiếm 23,5%, ốm vừa là 38,2% và ốm nhẹ là 38,4% [35]. Kết quả của Dương Minh Tâm cũng đưa ra một tỷ lệ ốm/bệnh trong vòng 4 tuần là 62,7%, trong đó tỷ lệ ốm nặng 25,5%, ốm vừa 36,2%, ốm nhẹ 38,4%[29]. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Minh Hưng (2019) thì tỷ lệ hộ gia đình có ít nhất I người ốm/bệnh trong tháng qua trung bình của Tây Nguyên là 28,51%.

Tại 4 tỉnh điều tra, tỷ lệ ốm/bệnh cao nhất ở Gia Lai (30,95%), tinh có tỷ lệ thấp nhất là Kon Tum (26%) và tỷ lệ hộ gia đình có 1-2 người mắc, chiếm 91,44%; chỉ có 8,56% hộ gia đình trong tháng qua có từ 3 người mắc trở lên [20]. Số người ốm theo thành phần dân tộc như dân tộc Kinh (26,47%), Jrai (26,21%) và Ba Na (25,06%). Các bệnh có tỷ lệ mắc cao là bệnh hô hấp chiếm 31,96% (cúm, viêm phổi, viêm phế quản) và các bệnh đường tiêu hoá chiếm 28,04% [20]. Tỷ lệ mắc một số bệnh ở khu vực Tây Nguyên so với cả nước ; Tỷ lệ mắc (%) STT Tên bệnh Khu vực Tây Cả nước Nguyên 1 | Bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh trùng 9,28 8,70 2 | Khéiu 3,20 3,26 3 | Bénh mau, co quan tao mau, mién dich 0,74 0,55 4__| Nội tiết-dinh đưỡng-chuyển hoá 1,16 1,84 5| Rối loạn tâm thần và hành vi 0,54 0,69 6_ | Bệnh của hệ thần kinh 1,98 2,49 7 | Bénh mat 0,74 2,23 8 | Bénh tai và xương chũm 1,21 1,43 9 | Bénh hệ tuần hoàn 5,95 10,46 10 | Bệnh hệ hô hấp 17,88 17,27 1I | Bệnh hệ tiêu hoa 8,65 9,70 12_ | Bệnh của da và mô dưới da 1,06 1,41 13 | Bệnh cơ xương khớp và mô liên kết 3,88 3,85 14 | Bénh hé tiét niéu, sinh dục 3,80 6,54 15 | Chửa đẻ và sau đẻ 15,88 13,22 16 | Bệnh trong thời kỳ chu sinh 1,71 1,85 17 | Dị dạng bẩm sinh và bất thường nhiễm sắc thé 0,16 0,41 (Nguồn: Niên giám thông kê y tế năm 2014 — Bo Y té) [17] Bảng 1.

Các bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất ở khu vực Tây Nguyên và cả nước Tỷ lệ trên 100.000 dân Mã Tên bệnh Khu vực se , a TA Cả nước. Tay Nguyén 169 | Cac bénh viém phoi 415 561 165 | Viêm họng/amidan câp 569 482 281 ` K2 thương oak do chân thương xác 338 386 định ở nhiêu nơi 184 | Viêm dạ dày và tá tràng 155 345 170 Viêm phê quản và viêm tiêu phê quản 226 338 cap 005 Tiêu chảy, viêm dạ dày, ruột non có 206 231 nguôn gôc nhiém khuan 206 | Bệnh khác của cột sông 166 181 (Nguồn: Niên giám thông kê y tế năm 2014-— Bộ Y tê) [L7] 1.Thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh trên thế giới và Việt Nam 1.Thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh trên thế giới Các nghiên cứu sử dụng dịch vụ y tế trên thế giới điều cho thấy quyết định của người bệnh đi đâu, làm gì khi bị bệnh phụ thuộc khá nhiều vào tính sẵn có dịch vụ, chất lượng dịch vụ, giá thành cũng như cấu trúc xã hội niềm tin về sức khỏe và các đặc trưng cá nhân của người bệnh cũng như mức độ bệnh, khoảng cách từ nhà đến cơ sở y tế và khả năng tiếp cận tới các dịch vụ của người dân. Thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh theo nhóm tuổi: Một nghiên cứu khác ở Iran (năm 2012) về tình hình sử dụng dịch vụ y tế trong 12 tháng được thực hiện trên 1.200 phụ nữ từ 18-49 tuổi cũng cho thấy sự khác biệt trong sử dụng dịch vụ y tế công vả tư nhân. Tỷ lệ sử dụng dịch vụ y tế công là 60,8% và tư nhân là 53,8%, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,001 [59].

Kết quả điều tra cắt ngang về tình hình sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh ngoại trú trong thời gian 3 tháng của trẻ em dưới 5 tuôi ở Brazil cho thấy 54% có đi khám bác sỹ 8% tư vấn qua điện thoại, 34% sử dụng dịch vụ y tế cấp cứu và trong đó I 1% phải nhập viện. Trẻ em ở nhóm kinh tế xã hội giàu thì đi khám bác sĩ nhiều hơn, ít tư vấn qua điện thoại và sử dụng dịch vụ y tế cấp cứu nhiều hơn so với trẻ từ nhóm trung bình trở xuống [53]. Một nghiên cứu tiến hành trên 1.182 phụ nữ ở khu vực nông thôn của tỉnh Hải Nam, Trung Quốc (2014) phát hiện khám chữa bệnh ngoại trú trong năm là 25,8% và tỷ lệ điều trị nội trú là 5,8%. Không điều trị có tỷ lệ tương đối cao tới 24,2% và có tới 21,3% trì hoãn sử dụng dịch vụ y tế [40] Nghiên cứu điều tra tại 4 làng của Thái Lan với 1755 trường hợp ốm đã cho ra kết quả có tới 70% tự điều trị.951 trường hợp ở Andhra Pradesh đã cho thấy 47% người bị ốm/ bệnh tự mua thuốc để điều trị là khá cao [30].

Báo cáo của WHO năm 2010 về sử dụng dịch vụ y tế và chỉ phí khám chữa bệnh bỏ từ tiền túi cá nhân của hộ gia đình ở 39 nước có mức thu nhập thấp và mức thu nhập trung bình cho thấy: đối với các dịch vụ ngoại trú có tới hơn một phần hai sử dụng dịch vụ tại các cơ sở y tế công lập (ở 27/39 nước), có một số nước dịch vụ được cung cấp tại CƠ SỞ tế công lên tới trên 80%. Với dịch vụ nội trú thì cơ sở y tế công lập hoàn toàn chiếm thế áp đảo so với y tế tư nhân ở đa số các quốc gia ngoại trừ Ấn Độ và Pakistan. Ở Brazin, Nepal, Philippine và Cộng hòa Domineca khoảng 50-60% bệnh nhân nội trú là ở cơ sở y tế công [54, 60]. Đối với các nước đang phát triển, người nghèo luôn luôn đứng ở thế bắt lợi trong tất cả các phương diện về tiếp cận dịch vụ y tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại xã biên giới Quảng Trực, Tuy Đức, Đắk Nông năm 2019" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế tại một khu vực biên giới, nơi mà người dân có thể gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận chăm sóc sức khỏe. Tài liệu nêu rõ những thách thức mà người dân phải đối mặt, như thiếu cơ sở vật chất, nhân lực y tế và sự thiếu hụt thông tin về dịch vụ y tế. Qua đó, tài liệu không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về thực trạng y tế tại khu vực này mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải thiện dịch vụ y tế để nâng cao sức khỏe cộng đồng.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến sức khỏe cộng đồng, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận án thực trạng kháng kháng sinh của một số vi khuẩn thường gặp ở cộng đồng và một số yếu tố liên quan ở việt nam năm 2018 2019, nơi phân tích tình hình kháng thuốc trong cộng đồng. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn nghiên cứu tỷ lệ nhiễm ba bệnh ký sinh trùng truyền lây giữa động vật và người tại huyện bắc yên tỉnh sơn la sẽ cung cấp thông tin về các bệnh ký sinh trùng và ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe cộng đồng. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu về Phân tích tình hình sử dụng thuốc corticoid đường uống theo quy định của bộ y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh kiên giang năm 2019 2020, để nắm bắt thêm về việc sử dụng thuốc trong điều trị bệnh. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề y tế hiện nay.