Tổng quan nghiên cứu

Khu vực biên giới Tây Nguyên luôn là địa bàn chiến lược nhưng phải đối mặt với nhiều thách thức về an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Tại 5 thôn biên giới thuộc xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông, kết quả khảo sát ghi nhận tỷ lệ người dân mắc ốm/bệnh trong vòng 4 tuần trước thời điểm nghiên cứu lên tới 31,48%, với 73,00% tổng số hộ gia đình có ít nhất một thành viên gặp vấn đề về sức khỏe. Địa bàn nghiên cứu có tổng diện tích tự nhiên rộng 560,24 km2, trong đó đất lâm nghiệp chiếm 91,91%, địa hình đồi núi bị chia cắt mạnh bởi nhiều khe suối với độ cao trung bình 800 mét so với mực nước biển. Tỷ lệ hộ nghèo tại địa phương năm 2017 chiếm tới 68,04% dân số toàn xã.

Đặc tính di biến động dân cư phức tạp cùng điều kiện khí hậu khắc nghiệt khiến người dân vùng biên dễ mắc các bệnh truyền nhiễm và bệnh đường hô hấp. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận dịch vụ y tế hiện đại còn nhiều rào cản do giao thông khó khăn và mạng lưới y tế tư nhân hầu như chưa phát triển. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Y tế công cộng của tác giả Võ Trí Toại được thực hiện nhằm hai mục tiêu trọng tâm: Thứ nhất, mô tả tình hình ốm/bệnh và thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của người dân tại 5 thôn biên giới xã Quảng Trực năm 2019; thứ hai, xác định các yếu tố nhân khẩu học, kinh tế, địa lý liên quan trực tiếp đến hành vi sử dụng dịch vụ y tế của cộng đồng.

Nghiên cứu được triển khai thực địa từ tháng 3 đến tháng 9 năm 2019 trên 100 hộ gia đình với 378 nhân khẩu tại 5 thôn gồm Bon Bu Prang 1, Bon Bu Prang 2, Bon Bu Dar, Bon Dak Huyt và Bon Bu Sop. Đề tài trực thuộc chương trình khoa học và công nghệ cấp Quốc gia giai đoạn 2016-2020 mã số KHCN-TN/16-20, mang mã số nhiệm vụ TN16/T03. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng có giá trị khoa học và thực tiễn cao, giúp các nhà hoạch định chính sách tối ưu hóa phân bổ nguồn lực y tế, nâng cao năng lực y tế cơ sở và hiện thực hóa mục tiêu bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân tại các vùng khó khăn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng khung lý thuyết hành vi sử dụng dịch vụ y tế của Ronald Andersen và Lu Ann Day nhằm giải thích các yếu tố tác động đến quyết định tiếp cận dịch vụ y tế của người dân. Mô hình tiếp cận đa tầng bao gồm bốn nhóm yếu tố cốt lõi:

  • Môi trường chính sách và tổ chức y tế: Bao gồm chính sách bảo hiểm y tế toàn dân, chương trình hỗ trợ khám chữa bệnh cho người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số vùng biên giới, cùng mạng lưới cung ứng dịch vụ tại tuyến xã và huyện.
  • Yếu tố cá nhân và xu hướng sẵn có: Đặc điểm nhân khẩu học bao gồm độ tuổi, giới tính, dân tộc, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp và nhận thức về tình trạng bệnh tật.
  • Yếu tố tạo điều kiện: Điều kiện kinh tế hộ gia đình, khả năng chi trả chi phí trực tiếp và gián tiếp, khoảng cách địa lý từ nơi cư trú đến cơ sở khám chữa bệnh, phương tiện giao thông và sự hỗ trợ của gia đình.
  • Nhu cầu chăm sóc sức khỏe: Mức độ nghiêm trọng của đợt ốm/bệnh do người dân tự đánh giá (nhẹ, vừa, nặng) hoặc chẩn đoán xác định từ nhân viên y tế.

Bên cạnh đó, nghiên cứu chuẩn hóa các khái niệm chuyên ngành dựa trên Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 40/2009/QH12 và các văn bản chỉ đạo chuyên môn của Bộ Y tế. Các khái niệm như đợt ốm/bệnh trong vòng 4 tuần, hành vi không điều trị, tự điều trị tại nhà bằng dược liệu dân gian và sử dụng dịch vụ y tế tại các cơ sở công lập hay tư nhân được phân định rõ ràng nhằm đảm bảo tính chuẩn xác trong đo lường dịch tễ học.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp hài hòa giữa phương pháp định lượng và định tính:

  • Phương pháp định lượng: Cỡ mẫu được xác định dựa trên công thức ước lượng một tỷ lệ trong quần thể với độ tin cậy 95% (hệ số Z bằng 1,96), sai số tuyệt đối cho phép d bằng 0,05 và tỷ lệ sử dụng dịch vụ y tế dự kiến p bằng 0,265 (tham chiếu từ nghiên cứu tương đồng tại vùng khó khăn năm 2017). Cỡ mẫu cá nhân tính toán đạt 299 đối tượng (làm tròn thành 300). Dựa trên quy mô trung bình 3,5 nhân khẩu trên một hộ gia đình tại xã Quảng Trực và dự phòng 10% sai số do vắng mặt, tổng cỡ mẫu hộ gia đình được xác định là 100 hộ, tương ứng với 378 cá nhân được điều tra toàn diện.
  • Phương pháp chọn mẫu: Áp dụng kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo tỷ lệ thành phần dân tộc tại 5 thôn biên giới. Cụ thể, danh sách hộ gia đình được lập và phân bổ mẫu theo đúng tỷ trọng dân số: 56 hộ dân tộc Kinh (chiếm 56,44%), 29 hộ dân tộc M'nông (chiếm 28,66%) và 15 hộ thuộc các dân tộc thiểu số khác như Tày, Nùng, Dao, Thái (chiếm 14,90%). Sau đó, các hộ cụ thể được lựa chọn ngẫu nhiên hệ thống với khoảng cách mẫu xác định.
  • Phương pháp định tính: Thực hiện thảo luận nhóm trọng tâm với 10 người dân đã trải qua đợt ốm trong 4 tuần (gồm 5 người có sử dụng dịch vụ y tế và 5 người không sử dụng dịch vụ) nhằm đào sâu các rào cản tâm lý, phong tục tập quán và động cơ lựa chọn nơi khám chữa bệnh.
  • Quy trình thu thập và phân tích: Đội ngũ điều tra viên là cán bộ y tế địa phương thông thạo tiếng dân tộc bản địa, được tập huấn kỹ lưỡng. Công tác giám sát thực địa được thực hiện chéo trên 30% mẫu phiếu. Dữ liệu được làm sạch, nhập kép bằng phần mềm EpiData phiên bản 3.1 và xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS. Phân tích thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm) kết hợp với thống kê suy luận (tính toán tỷ số chênh OR, khoảng tin cậy 95% và kiểm định Chi bình phương với mức ý nghĩa p nhỏ hơn 0,05) được thực hiện để kiểm định mối liên quan giữa các biến số.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát trên 378 nhân khẩu thuộc 100 hộ gia đình tại 5 thôn biên giới xã Quảng Trực đã ghi nhận các chỉ số dịch tễ học và hành vi sử dụng dịch vụ y tế cụ thể như sau:

  • Tình hình ốm/bệnh trong cộng đồng: Tỷ lệ người dân mắc ốm/bệnh trong vòng 4 tuần trước điều tra là 31,48% (119/378 người). Tỷ lệ này phân bố đồng đều giữa nam giới (31,55%) và nữ giới (31,40%). Xét theo nhóm tuổi, hai nhóm dễ bị tổn thương nhất có tỷ lệ ốm/bệnh cao vượt trội là trẻ em dưới 6 tuổi (53,70%) và người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên (52,95%), cao hơn gấp nhiều lần so với nhóm 40-59 tuổi (18,28%) và nhóm 19-39 tuổi (20,37%). Về mức độ nghiêm trọng, ốm nhẹ chiếm 33,61%, ốm vừa chiếm 31,09%, ốm nặng chiếm 24,37% và 10,92% không tự đánh giá được.
  • Thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh: Trong 119 trường hợp bị ốm/bệnh, có 78 người sử dụng dịch vụ y tế, đạt tỷ lệ 65,55%; trong khi 41 người không sử dụng dịch vụ, chiếm 34,45%. Tuyến y tế cơ sở đóng vai trò chủ lực khi có 43,59% bệnh nhân chọn Trạm Y tế xã và 39,74% chọn Trung tâm Y tế huyện. Các lựa chọn khác chiếm tỷ lệ thấp: tìm đến thầy lang y 6,41%, mua thuốc tại quầy dược tư nhân 3,85%, khám tại bệnh viện tuyến trên 2,56%, khám thầy thuốc tư 1,28% và tự điều trị tại nhà 1,28%.
  • Sự khác biệt theo nhóm nhân khẩu và kinh tế: Tỷ lệ sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh ở nữ giới đạt 74,07%, cao hơn đáng kể so với nam giới là 58,46%. Sự cách biệt theo thành phần dân tộc thể hiện rất rõ: người Kinh có tỷ lệ đi khám đạt 85,48%, trong khi đồng bào M'nông chỉ đạt 45,95% và các dân tộc thiểu số khác là 40,00%. Về điều kiện kinh tế, hộ khá giàu có tỷ lệ tiếp cận dịch vụ y tế lên tới 90,24%, hộ trung bình đạt 87,05%, nhưng hộ nghèo chỉ đạt 28,26%.
  • Rào cản tiếp cận dịch vụ y tế: Trong 41 trường hợp không sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh, nguyên nhân hàng đầu là tự chữa bệnh theo phương pháp dân gian hoặc cúng bái (32,05%), tiếp theo là khoảng cách đến cơ sở y tế quá xa (25,64%) và thiếu phương tiện đi lại (16,67%).

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ ốm/bệnh 31,48% ghi nhận tại xã Quảng Trực có tính tương đồng cao với kết quả khảo sát tại 28 xã biên giới thuộc 4 tỉnh Tây Nguyên của các nghiên cứu cùng thời kỳ, trong đó tỷ lệ ốm chung tại Đắk Nông là 30,24% và Gia Lai là 28,96%. Tỷ lệ mắc bệnh đặc biệt cao ở nhóm trẻ em dưới 6 tuổi (53,70%) và người già (52,95%) phản ánh quy luật sinh học tự nhiên kết hợp với điều kiện sống khó khăn, nhà ở tạm bợ và môi trường khí hậu biên thùy khắc nghiệt.

Khi phân tích hành vi lựa chọn nơi khám chữa bệnh, dữ liệu thực địa cho thấy sự dịch chuyển đáng chú ý: Trạm Y tế xã và Trung tâm Y tế huyện chiếm tới 83,33% tổng số lượt khám bệnh. Kết quả thảo luận nhóm khẳng định chính sách cấp phát bảo hiểm y tế miễn phí cho đồng bào dân tộc thiểu số và việc thông tuyến khám chữa bệnh bảo hiểm y tế cấp huyện đã tạo bước ngoặt lớn, giúp người dân giảm bớt rào cản chi phí trực tiếp.

Tuy nhiên, rào cản địa lý và kinh tế vẫn là bài toán nan giải. Những người sống cách cơ sở y tế dưới 30 km có tỷ lệ đi khám đạt 76,12%, cao hơn rõ rệt so với mức 51,92% ở nhóm sống xa trên 30 km. Tương tự, người có xe máy đi khám đạt 71,05%, trong khi người đi bộ hoặc xe đạp chỉ đạt 62,96%. Khi phân tích các bảng tương quan đa biến và biểu đồ phân tán, mức ý nghĩa thống kê p nhỏ hơn 0,05 đã khẳng định khoảng cách địa lý, trình độ học vấn và điều kiện kinh tế hộ gia đình là những yếu tố quyết định hành vi khám chữa bệnh. Sự tồn tại dai dẳng của tập quán tự chữa bệnh bằng cây cỏ dân gian hoặc cúng bái tại gia đình (32,05%) xuất phát từ niềm tin truyền thống lâu đời kết hợp với việc đường sá cách trở vào mùa mưa, đòi hỏi phải có những can thiệp y tế công cộng mang tính toàn diện và bền vững.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng khoa học thu được, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ y tế cho người dân vùng biên giới:

  • Nâng cao năng lực cung ứng dịch vụ y tế cơ sở: Sở Y tế tỉnh Đắk Nông và Trung tâm Y tế huyện Tuy Đức cần ưu tiên đầu tư trang thiết bị cận lâm sàng cơ bản, bổ sung biên chế bác sĩ đa khoa định kỳ về công tác tại Trạm Y tế xã Quảng Trực; đảm bảo cung ứng đủ 100% danh mục thuốc thiết yếu phục vụ khám chữa bệnh ban đầu theo bảo hiểm y tế, hoàn thành mục tiêu chuẩn hóa trạm y tế xã biên giới trong giai đoạn 2020-2025.
  • Tăng cường truyền thông giáo dục sức khỏe phù hợp văn hóa bản địa: Trung tâm Y tế huyện phối hợp cùng Ủy ban nhân dân xã Quảng Trực và mạng lưới 11 y tế thôn bản đẩy mạnh các chiến dịch truyền thông thay đổi hành vi; biên soạn tài liệu truyền thông song ngữ Kinh - M'nông; tập trung tuyên truyền tác hại của việc tự chữa bệnh bằng mẹo dân gian hoặc cúng bái khi mắc bệnh nặng. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ đi khám của đồng bào dân tộc thiểu số lên trên 70% và giảm tỷ lệ tự điều trị thiếu an toàn xuống dưới 15% vào năm 2023.
  • Thiết lập chính sách hỗ trợ chi phí gián tiếp cho hộ nghèo: Bảo hiểm Xã hội phối hợp với chính quyền địa phương xây dựng cơ chế hỗ trợ chi phí ăn uống và phương tiện vận chuyển cấp cứu cho 100% bệnh nhân thuộc hộ nghèo, cận nghèo tại các bon biên giới khi phải chuyển viện lên tuyến huyện hoặc tuyến tỉnh, triển khai đồng bộ từ quý I năm 2021.
  • Cải thiện hạ tầng giao thông liên thôn kết nối y tế: Đề nghị Ủy ban nhân dân huyện Tuy Đức bố trí nguồn vốn chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới để nâng cấp, bê tông hóa các tuyến đường giao thông liên thôn kết nối Bon Bu Prang 1, Bon Bu Prang 2, Bon Bu Dar, Bon Dak Huyt và Bon Bu Sop về trung tâm xã; đảm bảo thời gian tiếp cận cơ sở y tế bằng phương tiện cơ giới dưới 45 phút trong mọi điều kiện thời tiết, hoàn thành trước năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và dữ liệu thực chứng của luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho nhiều nhóm chuyên môn:

  • Các nhà quản lý và hoạch định chính sách y tế công cộng: Cán bộ lãnh đạo thuộc Sở Y tế, Phòng Y tế và Trung tâm Y tế các huyện biên giới có thể sử dụng các chỉ số về tỷ lệ mắc bệnh, mô hình lựa chọn cơ sở y tế để xây dựng kế hoạch phân bổ ngân sách, luân phiên cán bộ y tế và lập đề án phát triển y tế cơ sở sát thực tế.
  • Cán bộ y tế tuyến xã và nhân viên y tế thôn bản: Cung cấp góc nhìn thực tiễn về tâm lý, phong tục tập quán của đồng bào dân tộc M'nông, giúp cán bộ y tế cơ sở thiết kế các thông điệp truyền thông trực quan, dễ hiểu và xây dựng mối quan hệ tin cậy với già làng, trưởng bản.
  • Học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Y tế công cộng: Luận văn là hình mẫu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu cắt ngang kết hợp định lượng và định tính, quy trình chọn mẫu phân tầng theo tỷ lệ dân tộc tại địa bàn miền núi khó khăn và cách thức ứng dụng khung lý thuyết hành vi Andersen trong phân tích hồi quy.
  • Các tổ chức phi chính phủ và cơ quan phát triển quốc tế: Là nguồn dữ liệu thực địa đáng tin cậy phục vụ công tác khảo sát tiền khả thi, thiết kế các dự án can thiệp cải thiện dinh dưỡng, sức khỏe sinh sản và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho cộng đồng dân tộc thiểu số tại khu vực Tây Nguyên.

Câu hỏi thường gặp

  • Tỷ lệ ốm/bệnh tại 5 thôn biên giới xã Quảng Trực có cao hơn mức trung bình chung hay không? Tỷ lệ ốm/bệnh ghi nhận là 31,48% trong 4 tuần, tương đương với mức trung bình tại 28 xã biên giới Tây Nguyên (khoảng 30,24% tại Đắk Nông). Tuy nhiên, tỷ lệ hộ gia đình có người ốm lại chiếm tới 73,00%, cho thấy gánh nặng bệnh tật phân bố rộng khắp các gia đình, đặc biệt tập trung ở nhóm trẻ dưới 6 tuổi và người cao tuổi.
  • Tại sao tỷ lệ đi khám bệnh của người M'nông và dân tộc thiểu số khác lại thấp hơn người Kinh? Kết quả cho thấy người Kinh đi khám đạt 85,48%, trong khi người M'nông chỉ đạt 45,95%. Nguyên nhân xuất phát từ rào cản ngôn ngữ, trình độ học vấn, thói quen đi nương rẫy dài ngày và niềm tin lâu đời vào các bài thuốc dân gian hoặc nghi lễ cúng bái truyền thống khi mới chớm phát bệnh.
  • Trạm Y tế xã có đáp ứng tốt nhu cầu khám chữa bệnh của người dân địa phương không? Trạm Y tế xã Quảng Trực là điểm tiếp nhận lớn nhất với 43,59% lượt người lựa chọn nhờ ưu thế gần nhà và thanh toán bảo hiểm y tế thuận tiện. Tuy nhiên, trạm còn hạn chế về nhân lực chuyên môn sâu (chỉ có 1 bác sĩ đa khoa) và danh mục thuốc, khiến nhiều ca bệnh vừa và nặng phải chuyển lên Trung tâm Y tế huyện (chiếm 39,74%).
  • Rào cản lớn nhất khiến người nghèo tại địa bàn không sử dụng dịch vụ y tế là gì? Tỷ lệ khám bệnh ở nhóm hộ nghèo chỉ đạt 28,26% so với 87,05% ở nhóm trung bình. Dù được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí, người nghèo vẫn gặp khó khăn lớn về chi phí gián tiếp như tiền xăng xe đi lại trên quãng đường xa, tiền ăn ở khi nằm viện và sự thiếu hụt phương tiện vận chuyển an toàn.
  • Chính sách thông tuyến bảo hiểm y tế cấp huyện mang lại lợi ích gì cho người dân xã biên giới? Chính sách thông tuyến giúp người dân tự do đến khám tại Trung tâm Y tế huyện Tuy Đức mà không cần giấy chuyển tuyến từ trạm y tế xã nhưng vẫn được hưởng 100% quyền lợi bảo hiểm. Điều này tạo thuận lợi lớn, nâng tỷ lệ khám tại tuyến huyện lên 39,74%, giúp người dân tiếp cận kỹ thuật chẩn đoán tốt hơn.

Kết luận

  • Tỷ lệ ốm/bệnh trong 4 tuần tại 5 thôn biên giới xã Quảng Trực là 31,48%, với 73,00% hộ gia đình có người mắc bệnh; gánh nặng bệnh tật cao nhất ở trẻ em dưới 6 tuổi (53,70%) và người trên 60 tuổi (52,95%).
  • Tỷ lệ sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh đạt 65,55%, trong đó mạng lưới y tế công lập đóng vai trò trụ cột với Trạm Y tế xã chiếm 43,59% và Trung tâm Y tế huyện chiếm 39,74%.
  • Khoảng cách địa lý trên 30 km, điều kiện kinh tế nghèo và trình độ học vấn thấp là những rào cản chính làm suy giảm cơ hội tiếp cận dịch vụ y tế của cộng đồng dân tộc thiểu số.
  • Hành vi tự điều trị bằng kinh nghiệm dân gian chiếm 32,05% các lý do không đi khám, đòi hỏi các can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe phải gắn liền với văn hóa bản địa.
  • Luận văn đóng góp hệ thống bằng chứng thực nghiệm giá trị, phục vụ đắc lực cho đề tài khoa học cấp Quốc gia TN16/T03 và định hướng chính sách chăm sóc sức khỏe vùng biên giới Tây Nguyên.

Nhằm thu hẹp khoảng cách y tế và bảo vệ sức khỏe đồng bào vùng biên thùy, các cấp chính quyền và cơ quan y tế cần nhanh chóng triển khai đồng bộ các giải pháp củng cố trạm y tế cơ sở, nâng cấp giao thông nông thôn và mở rộng chính sách an sinh xã hội giai đoạn 2021-2025.