Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các khái niệm trong nghiên cứu Bú sớm: là cho trẻ bú mẹ trong vòng một giờ sau khi sinh (1). Sữa non: Sữa non được hình thành từ tuần thứ 14 - 16 của thai kỳ và được tiết ra trong 1 - 3 ngày đầu sau đẻ, có màu vàng nhạt hoặc trong, sánh đặc (8). Thành phần dinh dưỡng của sữa mẹ Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng tốt nhất cho sự phát triển của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ vì trong sữa mẹ có đầy đủ năng lượng và chất dinh dưỡng cần thiết như protein, glucid, lipid và mỡ vitamin và muối khoáng với tỷ lệ thích hợp cho sự hấp thu và phát triển của cơ thể trẻ.
Việc cho bú mẹ trong thời gian đầu đời là hết sức cần thiết nhằm đảm bảo cho bé ít bệnh tật, phát triển cân bằng và hài hòa (9). Nhờ sự phát triển của khoa học bắt đầu từ những năm 80 người ta hiểu rõ hơn về thành phần và cơ chế hình thành sữa mẹ cũng như tầm quan trọng của sữa mẹ. Ngày nay cùng với công nghệ hóa sinh, sinh học phân tử, sữa mẹ đã được phân tích sâu sắc hơn cho kết quả gồm hàng trăm chất dinh dưỡng khác nhau với thành phần cân đối và hợp lý. Thành phần sữa mẹ ở 2 giai đoạn sữa non và sữa trưởng thành cũng được nghiên cứu và khẳng định là thức ăn lý tưởng, phù hợp với nhu cầu của trẻ theo từng giai đoạn phát triển (10).
Sữa non: Sữa non số lượng ít nhưng độ đậm cao. Sữa non giàu kháng thể, nhiều protein kháng khuẩn, nhiều tế bào bạch cầu hơn sữa trưởng thành, giúp trẻ pḥòng chống nhiễm khuẩn, dị ứng và có khả năng miễn dịch nhiều bệnh mà trẻ có thể mắc sau đẻ. Sữa non có tác dụng xổ nhẹ, đào thải phân su, thải bilirubin ra khỏi ruột làm giảm mức độ vàng da của trẻ (8). Sữa trưởng thành: có đầy đủ và cân đối các thành phần dinh dưỡng.
Protein sữa mẹ có chứa nhiều acid amin thiết yếu với lượng phù hợp và dễ tiêu hóa. Sữa mẹ có acid béo cần thiết như acid linoleic cần cho sự phát triển của não, mắt và sự bền vững thành mạch của trẻ, hơn nữa lipid trong sữa mẹ dễ được tiêu hóa hơn do có lipase. Lactose trong sữa mẹ cung cấp thêm nguồn năng lượng cho trẻ, một số lactose vào ruột lên men tạo thành acid lactic giúp cho hấp thu canxi và muối khoáng tốt hơn (1). 5 Sữa mẹ còn chứa nhiều các men giúp cho trẻ tiêu hóa và hấp thu tốt.
Hoạt tính lysozym, amylaza của sữa non cao hơn 60 lần và ở sữa hoàn thiện là 40 lần so với sữa bò. Nhiều các men khác cũng có mặt với nồng độ rất cao bao gồm transaminaza, catalaza, lactaza, dehydrozenaza, proteaza và lipaza. Nội tiết tố giáp trạng và những nội tiết tố khác cũng được tiết ra ở sữa mẹ (11). Sữa mẹ còn có nhiều vitamin và muối khoáng như vitamin A, C, Can xi, Sắt, tỷ lệ Ca/P thích hợp dễ hấp thu, phòng được một số bệnh do thiếu vi chất gây ra như khô mắt do thiếu vitamin A, thiếu máu thiếu sắt, còi xương (11).
Một thành phần quan trọng chỉ có trong sữa mẹ đó là chất kháng khuẩn. Đó là các kháng thể IgA có nhiều nhất trong sữa non và giảm dần ở các ngày sau đó. Lactoferin là một protein gắn sắt có tác dụng kìm khuẩn không cho vi khuẩn ưa sắt phát triển. Các enzyme lactozym có tác dụng tiệt khuẩn.
Hơn 80% trong sữa là các thực bào, lympho bào có tác dụng tiết IgA và thực bào , interferon có tác dụng ức chế hoạt động của vi khuẩn, virut, nấm (9). Mặc khác trong sữa mẹ cũng có yếu tố kích thích sự phát triển của vi khuẩn lactobacillus bifidus, lấn át sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh như Ecoli. Sữa mẹ có khoảng hơn 100 thành phần không tìm thấy trong bất kỳ loại sữa công thức nào, hầu như không một đứa trẻ nào dị ứng với sữa của mẹ mình (1). Lợi ích khi cho trẻ bú sớm Cho trẻ bú sớm làm tăng cường hệ miễn dịch cho trẻ, cũng làm tăng cơ hội sống sót, phát triển của trẻ.
Những lợi ích này khiến cho việc bắt đầu cho con bú sớm trở thành một trong các biện pháp chính trong chăm sóc đối với trẻ sơ sinh thiết yếu (2). Nghiên cứu cho thấy bắt đầu cho trẻ bú muộn hơn 1 giờ sau khi sinh (2-23giờ) có nguy cơ tử vong cao hơn 33%, những người bắt đầu cho con bú muộn hơn 24 giờ sau khi sinh làm nhân đôi nguy cơ tử vong, trẻ được bú sữa mẹ sớm cũng làm giảm nguy cơ mắc các bệnh nhiễm khuẩn trong những tháng đầu sau sinh (3). Cho con bú sớm trong 1 giờ đầu sau sinh là cách thức để mẹ truyền cho con nguồn sữa non với nồng độ cao vitamin A, kháng thể, các yếu tố bảo vệ khác, giúp củng cố và cân bằng hệ thống miễn dịch thụ động của trẻ. Cho trẻ bú sớm sau khi sinh là biện pháp quan trọng vì trong thời điểm 6 này trẻ sơ sinh ở trạng thái tỉnh táo nhanh nhẹn nhất và dễ thực hành bú mẹ nhất.
Khi thời điểm này đi qua, trẻ trở nên buồn ngủ hơn và bắt đầu hồi phục sau quá trình thở. Trong 1 giờ đầu tiên, quan trọng là để trẻ ở gần mẹ, để trẻ có cơ hội được bú sớm. Không cho trẻ bú mẹ sớm sau khi sinh là một trong những nguy cơ khiến trẻ thôi bú sớm sau 2 tháng (12). Theo kết quả nghiên cứu trên thế giới đã khẳng định rằng cho trẻ bú sớm trong vòng một vài giờ đầu sau sinh và bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu có thể cứu sống được trên 1 triệu trẻ em hàng năm, là một trong những can thiệp mang lại hiệu quả cao nhất nhằm cứu sống trẻ em (13).
Bên cạnh những lợi ích mang lại cho trẻ khi được cho bú sớm thì việc này cũng đem đến rất nhiều lợi ích và thuận tiện cho người mẹ. Cho con bú giúp tạo ra sự kết nối tình cảm giữa mẹ và bé. Cho trẻ bú sớm gíúp cho bà mẹ chóng co hồi tử cung, tránh băng huyết sau đẻ. Khi trẻ bú sẽ kích thích hypothalamus sản xuất ra một hormone khác đó là oxytocin có tác dụng co các tế bào cơ ở xung quanh tuyến sữa gây nên phản xạ tiết sữa.
Oxytocin cũng có tác dụng trên cơ tử cung, do đó nếu trẻ bú mẹ ngay lập tức sau đẻ, oxytocin sẽ được sản xuất và tác dụng lên tế bào cơ tử cung giúp cho việc cầm máu nhanh sau đẻ (14). Cho trẻ bú sớm sau sinh làm cho sữa mẹ mau về, bởi vì động tác mút vú của trẻ sẽ kích thích tuyến yên giải phóng prolactin, nó sẽ kích thích các tế bào tuyến sữa sản xuất ra sữa. Như vậy trẻ càng bú nhiều thì càng có nhiều prolactin và sữa sẽ tiết ra nhiều hơn. Như vậy biện pháp đơn giản nhất, kinh điển nhất và tự nhiên nhất để tăng lượng sữa của mẹ là cho trẻ bú thường xuyên, không hạn chế số lần trong ngày.
Một đứa trẻ đói thường bú nhiều hơn là những đứa trẻ đã no, nếu cho trẻ ăn những thức ăn khác trước khi bú, nó có thể làm cản trở sự tiết sữa (13). Nghiên cứu cho thấy, sữa mẹ bắt đầu tiết ra mau hơn ở những người mẹ cho bú sớm, cho bú nhiều lần. Sữa mẹ tiết ra sớm một cách rõ ràng ở những người mẹ bắt đầu cho bú mẹ trong một giờ đầu sau sinh hơn các bà mẹ đợi cho sữa tự xuống. Thời điểm bà mẹ bắt đầu cho trẻ bú theo khuyến cáo của WHO cũng như chiến lược hợp tác của WHO và UNICEF về sự sống còn của trẻ đã khuyến nghị 7 mẹ nên cho trẻ bú mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau sinh giúp trẻ tận dụng được nguồn sữa non là loại sữa tốt nhất, hoàn hảo về dinh dưỡng và các chất sinh học thích ứng với cơ thể non nớt của trẻ sơ sinh, càng bú sớm thì càng tốt cho trẻ và không cần cho trẻ mới sinh ăn bất kỳ thứ gì khác trước khi bú mẹ lần đầu (1).
Ngay sau đẻ cần cho trẻ tiếp xúc da kề da với mẹ, để tạo điều kiện tự nhiên cho trẻ tìm vú mẹ và bắt đầu bữa bú đầu tiên. Theo đặc điểm sinh lý của trẻ, thời gian từ khi trẻ sinh ra được áp vào ngực bà mẹ cho đến khi trẻ tự tìm được bầu vú mẹ và bắt đầu bú vào khoảng 1 giờ. Đây được gọi là hành vi sinh tồn theo bản năng của trẻ (8). Thực trạng cho trẻ bú sớm sau sinh trên Thế giới và Việt Nam 1.
Thực trạng kiến thức về bú sớm của các bà mẹ Mặc dù hiểu biết của các bà mẹ cũng như cộng đồng về lợi ích của NCBSM là khá tốt, tuy nhiên kiến thức về cho trẻ bú sớm còn hạn chế, đặc biệt là về hiểu đúng về các khái niệm bú sớm, sữa non và lợi ích của việc cho con bú sớm. Nghiên cứu của tác giả Yến Nhi năm 2014 tại BVĐK Kiên Giang (4) cho thấy tỉ lệ bà mẹ biết thời gian cho trẻ bú sớm là khá cao (80%), tuy nhiên số bà mẹ biết về lợi ích cho mẹ khi cho trẻ bú sớm chỉ là 28,5% và cho trẻ khi là 26,5%. Các nghiên cứu khác gần đây cũng cho kết quả tương tự. Nghiên cứu năm 2017 tại Lạng Sơn chỉ có 10,7% bà mẹ có kiến thức đúng về lợi ích của sữa non, về khái niệm sữa non là 11,1% (15); nghiên cứu của tác giả Phan Thị Ánh Tuyết số bà mẹ có kiến thức đúng về khái niệm sữa non cũng chỉ ở mức 16,7% (16).
Thực trạng về thực hành cho trẻ bú sớm Mặc dù nhiều lợi ích được công nhận từ việc cho bú sớm nhưng tỷ lệ cho bú sớm còn ở mức thấp ở phần lớn các nước trên thế giới bao gồm cả Việt Nam. Một nghiên cứu gần đây được công bố trên The Lancet (17), so sánh tỷ lệ trẻ được bú sớm ở 46 quốc gia thu nhập thấp và trung bình (LMIC) và các quốc gia có thu nhập cao. Trong số 49% LMIC có sẵn dữ liệu, báo cáo có hơn một nửa số trẻ sơ sinh được cho bú sớm và chỉ một quốc gia (Cộng hòa Slovak) ghi nhận 80%. Đáng chú ý là 50% LMIC không có dữ liệu về việc số trẻ được cho bú sớm.