ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, bệnh đái tháo đường đã trở thành một trong những bệnh không lây phổ biến nhất trên toàn cầu. Bệnh đái tháo đường là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ tư hoặc thứ năm ở các nước đang phát triển và đang là một bệnh phổ biến ở các nước đang phát triển. Báo cáo của liên đoàn đái tháo đường quốc tế (IDF) năm 2011 cho thấy thế giới có 366 triệu người bị đái tháo đường và ước tính sẽ tăng lên 552 triệu người vào năm 2030, tỷ lệ mắc đái tháo đường type 2 chiếm 90% tổng số bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường và có đến 80% số bệnh nhân tử vong do đái tháo đường thuộc các nước có thu nhập trung bình và thấp [64], [50]. Ở Việt Nam theo kết quả điều tra bệnh đái tháo đường năm 2008, tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường trong cả nước là trên 5%, tại các thành phố lớn và khu công nghiệp có tỷ lệ từ 7% đến 10%, tỷ lệ mắc ĐTĐ chưa được chẩn đoán trên 64%, có tới 70% đến 80% số người tham gia phỏng vấn không hiểu biết về bệnh và cách phòng bệnh [19].
Các biến chứng của bệnh đái tháo đường như: bệnh mạch vành, bệnh mạch máu ngoại vi, đột quỵ, bệnh lý thần kinh do đái tháo đường, hoại tử chi, tổn thương thận và mù đang làm tăng tỷ lệ người khuyết tật, giảm tuổi thọ và kéo theo đó là những khoảng chi phí khổng lồ cho cộng đồng bị bệnh. Chi phí đối với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người bị đái tháo đường lên tới 465 tỷ đô la, chiếm 11% tổng số ngân sách y tế cho nhóm người từ 20-79 tuổi năm 2011, trong đó chi phí chủ yếu dành cho điều trị biến chứng của đái tháo đường, bao gồm biến chứng về tim mạch, đột quỵ, cắt cụt chi, suy thận và mù lòa [17], [50]. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân đái tháo đường tuân thủ điều trị tốt, thay đổi chế độ ăn uống, hoạt động thích hợp thì họ sẽ giảm nguy cơ mắc các biến chứng, có cơ hội sống như người khoẻ mạnh bình thường [20]. Chính vì vậy, việc truyền thông, tư vấn, cung cấp những kiến thức về bệnh cho bệnh nhân sẽ có hiệu quả cao, thiết thực trong việc kiểm soát đường huyết và phòng ngừa một số biến chứng của bệnh.
Nghiên cứu của Đỗ Văn Hinh năm 2007 tại Thanh Miện có tỷ lệ bệnh nhân có kiến 2 thức và thực hành phòng biến chứng đạt chỉ là 56,5% và 27,4% [25], nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Đan năm 2010 tại Hưng Yên có tỷ lệ là 70,2% và 63% [23]. Bệnh viện đa khoa thị xã Vĩnh Châu là bệnh viện hạng III. Theo số liệu báo cáo thống kê của Bệnh viện năm 2012, 2013 và 09 tháng đầu năm 2014 thì bệnh đái tháo đường điều trị ngoại trú tại bệnh viện mỗi năm càng tăng với số bệnh nhân hàng năm là 250, 370, 502 bệnh và số bệnh nhân phải nhập viện điều trị nội trú do biến chứng của đái tháo đường năm 2012 có 141 bệnh, năm 2013 có 220 bệnh và 09 tháng đầu năm 2014 có 330 bệnh nhân [18]. Tại sao số bệnh nhân đái tháo đường phải nhập viện điều trị do biến chứng cao, hiện có bao nhiêu bệnh có kiến thức, thực hành đúng để phòng các biến chứng do bệnh đái tháo đường, những yếu tố nào liên quan tới kiến thức, thực hành phòng biến chứng ở các bệnh đái tháo đường này.
Để có cơ sở khoa học trả lời cho các câu hỏi trên, từ đó đề xuất các giải pháp hữu hiệu với các bên liên quan như: Người bệnh, gia đình người bệnh, bệnh viện, CBYT,. Nhằm làm giảm số ca bệnh đái tháo đường phải nhập viện và làm chậm các biến chứng của bệnh đái tháo đường, kéo dài cuộc sống. Đồng thời có cơ sở xây dựng những giải pháp chiến lược phòng biến chứng bệnh đái tháo đường và truyền thông, tư vấn giáo dục sức khỏe nhằm làm thay đổi hành vi phòng biến chứng. Xuất phát từ thực tế trên, được sự ủng hộ của ban lãnh đạo Bệnh viện đa khoa thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, chúng tôi nhận thấy rằng cần thực hiện đề tài:“Kiến thức, thực hành phòng biến chứng đái tháo đường và một số yếu tố liên quan của bệnh nhân điều trị tại phòng khám bệnh viện đa khoa thị xã Vĩnh Châu tỉnh Sóc Trăng năm 2015ˮ 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả thực trạng kiến thức và thực hành phòng biến chứng bệnh đái tháo đường của bệnh nhân điều trị tại phòng khám bệnh viện đa khoa thị xã Vĩnh Châu tỉnh Sóc Trăng năm 2015. Xác định một số yếu tố liên quan tới kiến thức, thực hành phòng biến chứng bệnh đái tháo đường của bệnh nhân điều trị tại phòng khám bệnh viện đa khoa thị xã Vĩnh Châu tỉnh Sóc Trăng năm 2015. 4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Định nghĩa và phân loại bệnh đái tháo đƣờng 1.
Định nghĩa đái tháo đường: Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), thì đái tháo đường: “là một hội chứng có đặc tính biểu hiện bằng tăng glucose máu do hậu quả của việc thiếu/ hoặc mất hoàn toàn insulin hoặc do có liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết hoặc hoạt động của insulin” [15]. Theo Hội đái tháo đường Hoa Kỳ năm 2008: “ Đái tháo đường là một nhóm các bệnh lý chuyển hóa đặc trưng bởi tăng glucose máu do khiếm khuyết tiết insulin; khiếm khuyết hoạt động insulin hoặc cả hai. Tăng glucose máu mạn tính trong đái tháo đường sẽ gây tổn thương, rối loạn chức năng hay suy nhiều cơ quan đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu” [28]. Chẩn đoán bệnh đái tháo đường: Theo WHO (2006) thì tiêu chuẩn chẩn đoán xác định đái tháo đường nếu có 1 trong 3 tiêu chuẩn dưới đây [62]: Glucose máu lúc đói ≥ 1,26g/l (≈ 7mmol/l), làm ít nhất 2 lần; Glucose máu ở thời điểm bất kỳ ≥ 2g/l (≈ 11,1mmol/l), có kèm theo triệu chứng lâm sàng; Glucose máu sau 2 giờ làm nghiệm pháp tăng đường huyết ≥ 11,1mmol/l 1.
Phân loại bệnh đái tháo đường (1999) Phân loại bệnh đái tháo đường và các mức độ giảm dung nạp glucose hiện đang sử dụng được Hội đái tháo đường Mỹ (American Diabetes Association - ADA) đề xuất năm 1997 và được Tổ chức y tế thế giới phê chuẩn vào năm 1999 dựa trên cơ sở cơ chế bệnh sinh: 1. Bệnh đái tháo đường type 1 Bệnh đái tháo đường type 1 là trường hợp đái tháo đường do nguyên nhân tế bào beta của tuyến tụy không sản xuất được insulin. Bệnh này thường gặp ở người trẻ tuổi, có liên quan đến các yếu tố di truyền, chiếm 5-10% trong tổng số bệnh nhân đái tháo đường. Bệnh đái tháo đường type 2 Bệnh thường gặp ở lứa tuổi > 40, hiện nay có thể gặp ở lứa tuổi trẻ hơn.
Nguyên nhân gây bệnh là tụy tiết thiếu insulin hoặc không được insulin tiết ra, thường gặp điều kiện thuận lợi bên ngoài như lối sống tĩnh tại, ít vận động, ăn uống nhiều dẫn đến thừa cân bệnh phát sinh. Bệnh diễn biến âm thầm, phát hiện một cách ngẫu nhiên hoặc khi đã nặng có biến chứng như hôn mê, nhiễm khuẩn, tăng huyết áp, giảm thị lực; Đái tháo đường type 2 chiếm tỉ lệ khoảng 90-95% trong tổng số bệnh nhân đái tháo đường [40], [63], [66]. Những thể bệnh đái tháo đường đặc biệt Khiếm khuyết gen hoạt động tế bào beta: đái tháo đường khởi phát sớm ở người trẻ thường dưới 25 tuổi (mauturity – onset diabetes of young, MODY) do đột biến gen. Gồm các thể MODY 1 (khiếm khuyết nhiễm sắc thể 20, NHF-4α), MODY 2 (khiếm khuyết nhiễm sắc thể 7, glucokinase) MODY 3 (khiếm khuyết nhiễm sắc thể 12, HNF-1α), MODY 4 (khiếm khuyết AND ty lạp thể) và các khiếm khuyết khác.
Khiếm khuyết gen hoạt động của insulin: bất thường hoạt động của insulin do đột biến thụ thể insulin. Gồm kháng insulin type A, leprechaunism, hội chứng Rabson- Mendenhall, đái tháo đường teo tổ chức mỡ, dạng khác. Bệnh tuỵ ngoại tiết: tất cả những tác động gây tổn thương lớn ở tuyến tuỵ có thể gây đái tháo đường. Nhưng tổn thương như viêm tuỵ, chấn thương, nhiễm trùng, carcinoma tuỵ, cắt bỏ tuỵ, chứng xơ hoá nang, chứng nhiễm sắt tố sắt- đái tháo đường đồng đen, sỏi tuỵ và một số bệnh khác và một số bệnh nội tiết quá nhiều hormone có tác dụng đối lập hoạt động insulin như GH, cortisol, glucagon, epinephrine,… có thể gây đái tháo đường; Đái tháo đường do thuốc hoặc hoá chất: hoá chất diệt chuột (varco), pentamidin, nicotinic acide, glucocorticoid,.; Một số bệnh nhiễm trùng: nhiễm một số loại virus như coxsackie B, cytomegalovirus, adenovirus, virus quai bị có thể gây đái tháo đường.
Bệnh đái tháo đường thai kỳ: là dạng bệnh đái tháo đường khởi phát hoặc được phát hiện lần đầu tiên trong thời kỳ mang thai [4], [11], [13]. Biến chứng của đái tháo đƣờng Bệnh đái tháo đường là bệnh nguy hiểm đe dọa đến tính mạng và gây ra nhiều 6 biến chứng, theo Hiệp Hội đái tháo đường quốc tế, đái tháo đường là nguyên nhân gây tử vong đứng hang thứ tư hoặc thứ năm ở các nước phát triển và đang coi là một dịch bệnh ở nhiều nước đang phát triển. Những biến chứng của bệnh đái tháo đường thường rất phổ biến (khoảng 50% bệnh nhân đái tháo đường có biến chứng) như bệnh mạch vành, các bệnh mạch máu ngoại vi, đột quỵ, bệnh lý thần kinh do đái tháo đường, cắt đoạn chi dưới, suy thận và mù lòa. Các biến này thường dẫn đến tàn tật và giảm tuổi thọ [11], [56].
Biến chứng cấp tính 1. Hạ đường huyết Hạ đường huyết là biến chứng thường gặp nhất trong bệnh ĐTĐ, nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời có thể dẫn tới tử vong, đặc biệt là ở những bệnh nhân lớn tuổi và có tiền sử tim mạch. Hạ đường huyết xảy ra do sự dư thừa tương đối insulin trong máu. Mức đường gây triệu chứng hạ đường huyết thay đổi tùy từng người, thậm chí ở cùng một người nồng độ này cũng khác nhau tùy hoàn cảnh [6].
Một nghiên cứu được tiến hành trên cơ sở xem xét các hồ sơ của 233 đối tượng (92 nam, 141 nữ) với tiểu đường type 2 được điều trị tại một bệnh viện ở Hàn Quốc đã nhập viện vì hạ đường huyết. Kết quả: 74 (31,8%) bệnh nhân được xác định với hạ đường huyết thường xuyên và 159 (68,2%) không tái phát. Cũng từ nghiên cứu này đã tìm ra hạ đường huyết gồm có: Dùng quá liều thuốc tiểu đường (hay insulin); ăn uống không đúng giờ giấc; bỏ qua các bữa ăn chính hay bữa ăn phụ; vận động nhiều hơn bình thường; uống rượu khi bụng đói, mắc các bệnh nhiễm trùng [65].