CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Định nghĩa và phân loại tăng huyết áp 1. Định nghĩa tăng huyết áp Theo WHO, một người lớn bị THA thực sự khi huyết áp tâm thu (HA tối đa) ≥ 140 mmHg và/ hoặc huyết áp tâm trương (HA tối thiểu) ≥ 90 mmHg hoặc đang điều trị thuốc hạ áp hàng ngày hoặc có ít nhất 2 lần được bác sĩ chẩn đoán là THA. Định nghĩa này đơn giản nhưng có nhược điểm là trị số huyết áp không hoàn toàn ổn định và huyết áp thay đổi theo tuổi, giới, sắc tộc …[32].
Phân loại tăng huyết áp Trong những năm gần đây, phân loại THA cũng có nhiều thay đổi. Theo Liên ủy quốc gia về dự phòng, phát hiện, đánh giá và điều trị THA (JNC – Join National Committee) lần thứ VII năm 2003 thì THA được chia làm 3 độ: - Tiền THA (HATT 130 - 139mmHg và/hoặc HATTr 85 - 89mmHg) - THA độ I (140 – 159/ 90 – 99 mmHg). - THA độ II (HATT 160 - 179mmHg và/hoặc HATTr 100 - 109mmHg) - THA độ III (HATT ≥180mmHg và/hoặc HATTr ≥110mmHg) Ngoài ra còn có xếp loại THA tâm thu đơn độc khi HATT ≥140mmHg và HATTr <90mmHg. (Nếu HATT và HATTr không cùng mức phân độ thì chọn mức cao hơn để xếp loại.
THA tâm thu đơn độc cũng được phân độ theo các mức biến động của HATT). Nguyên nhân của tăng huyết áp Đại đa số bệnh nhân THA (trên 90%) thường không có các dấu hiệu cảnh báo nào trước. Quan điểm trước đây cho rằng cứ THA là phải có các dấu hiệu như đau đầu, mặt đỏ bừng, người béo,…là hết sức sai lầm. Ở nhiều trường hợp, sự xuất hiện 5 triệu chứng đau đầu đã có thể là sự kết thúc của người bệnh THA do đã bị TBMMN.
Do vậy, việc kiểm tra huyết áp thường xuyên, đặc biệt đối với những người có nguy cơ cao là việc làm hết sức cần thiết và quan trọng. THA ở người lớn chủ yếu là không có căn nguyên, chỉ có một số nhỏ dưới 5% là THA có căn nguyên (tức là người bệnh bị THA do hậu quả của những bệnh lý khác). Người ta chia nguyên nhân của THA thành hai loại là THA nguyên phát và THA thứ phát. THA nguyên phát: là các trường hợp THA không tìm thấy nguyên nhân, chiếm 90 - 95% các trường hợp THA, cơ chế bệnh sinh đến nay chưa được rõ ràng.
Yếu tố nguy cơ của THA nguyên phát có thể kể đến như: chế độ ăn nhiều muối, nhiều mỡ động vật, hút thuốc lá/ thuốc lào, uống rượu/ bia, lối sống tĩnh tại, lười vận động… Ngoài ra THA nguyên phát có thể xảy ra do các yếu tố di truyền, bệnh mang tính chất gia đình hoặc do các yếu tố tâm lý xã hội, tình trạng căng thẳng stress thường xuyên[8]. Các yếu tố này có thể phối hợp với nhau trên cùng một bệnh nhân và càng nhiều yếu tố nguy cơ kết hợp với nhau thì tiến triển của bệnh và nguy cơ bị biến chứng do THA càng nhiều, tiên lượng của bệnh nhân càng xấu. THA thứ phát: là những trường hợp bị THA do hậu quả của một bệnh lý khác. Một số bệnh có thể là nguyên nhân gây ra THA như: các bệnh về thận (viêm cầu thận, bệnh thận đa nang, suy thận,…), bệnh về nội tiết (u tủy thượng thận,…), bệnh tim mạch (hẹp eo động mạch chủ, hở van động mạch chủ,…), do thuốc (sử dụng các hormone ngừa thai, cam thảo, corticoid,…), hoặc do một số nguyên nhân khác như ngộ độc thai nghén, bệnh cường giáp, bệnh đa hồng cầu,…[8] Đa số bệnh nhân bị THA không có triệu chứng gì cho tới khi phát hiện ra bệnh, dấu hiệu thể hiện bệnh THA của họ không có gì khác biệt so với người bình thường.
Rất nhiều trường hợp người bệnh đến khi bị biến chứng của THA, thậm chí tử vong mới biết mình bị THA hoặc mới hiểu rõ tầm quan trọng của việc kiểm soát tốt THA. Một số biểu hiện có thể có ở bệnh nhân THA như: đau đầu vùng chẩm và hai bên thái dương, ngoài ra người bệnh có thể cảm thấy hồi hộp, mệt, khó thở, mờ mắt,… nhưng không đặc hiệu. Một số triệu chứng khác của THA tùy thuộc vào nguyên nhân THA hoặc biến chứng của THA. THA nếu không được điều trị đúng 6 và đầy đủ sẽ dẫn đến nhiều biến chứng rất nặng nề, thậm chí có thể gây tử vong hoặc để lại những di chứng ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe, sức lao động của người bệnh và trở thành gánh nặng bệnh tật và kinh tế cho gia đình và xã hội [8].
Tình hình tăng huyết áp trên thế giới và tại Việt Nam 1.Tình hình tăng huyết áp trên thế giới Bệnh THA trong cộng đồng ngày càng gia tăng và hiện tại đang ở mức cao, đặc biệt các nước phát triển. Tại các nước phát triển, chuyển dịch mô hình bệnh tật từ các bệnh nhiễm trùng là chủ yếu sang các bệnh không nhiễm trùng là chính, trong đó có bệnh THA. Số người bị THA trên thế giới năm 2000 ước tính vào khoảng 972 triệu người trong đó 333 triệu người THA ở các nước phát triển và 639 triệu người ở các nước đang phát triển và dự tính đến năm 2025 số người bị THA sẽ tăng khoảng 60% lên tới 1,56 tỷ người[25]. Theo báo cáo của WHO (2002), THA ước tính là nguyên nhân gây tử vong cho 7,1 triệu người trẻ tuổi và chiếm 4,5% gánh nặng bệnh tật trên toàn cầu (64 triệu người sống trong tàn phế)[29].
Đến năm 2009, trong báo cáo về các yếu tố nguy cơ sức khỏe toàn cầu của WHO, THA là một trong những yếu tố nguy cơ hàng đầu gây ra tử vong toàn cầu (13%) cao hơn cả hút thuốc lá (9%)[30]. Tỷ lệ hiện mắc hiệu chỉnh theo tuổi ở nam là 39% so với nữ 23,1%. Nhưng tỷ lệ THA ở nam chỉ cao hơn ở nữ lứa tuổi trước tuổi 45. Ở độ tuổi 45 - 54, tỷ lệ THA ở nữ bắt đầu nhỉnh hơn ở nam giới và ở các độ tuổi lớn hơn tỷ lệ THA ở nữ cao hơn nam[15],[27].
Một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng không có sự khác biệt giữa tỷ lệ THA giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển. Những năm gần đây, tỷ lệ THA của các nước đang phát triển đang tiến gần hơn so với các nước phát triển[20]. Trên thế giới cũng đã có rất nhiều nghiên cứu về bệnh THA ở người trưởng thành. Điều tra tại Hoa Kỳ năm 1999 - 2000 trên đối tượng là người trưởng thành cho thấy có hơn 65 triệu người Mỹ bị THA chiếm 31,3%, còn theo thống kê năm 2007 của Hội Tim mạch học Hoa Kỳ có khoảng 72 triệu người bị THA[22].
Tỷ lệ THA tại Canada năm 1992 là 22%[24]. Năm 2007, một nghiên cứu về thực trạng THA và các yếu tố nguy cơ của THA tại môi trường làm việc tại châu Phi đã cho thấy tỷ lệ THA là 21,3%[23]. Một nghiên cứu ở Brazil, tỷ lệ THA trong nhóm tuổi 7 từ 20 – 69 là 23,6%[21]. Nghiên cứu này cũng cho thấy tỷ lệ THA tăng nhanh, đặc biệt trong nhóm những người trẻ tuổi.
Theo một nghiên cứu khác tại Ấn Độ, tỷ lệ THA ở người dân thành thị là 20%, chiếm 1/5 dân số miền Nam Ấn Độ. Trong số những người bị THA chỉ có 32,8% quan tâm đến tình trạng THA của họ và trong số 70,8% người bệnh THA được điều trị chỉ có 45,9% người bệnh kiểm soát được huyết áp của họ[26].Tình hình tăng huyết áp tại Việt Nam Ở Việt Nam, tỷ lệ phần trăm người bị THA ngày càng gia tăng khi nền kinh tế phát triển. Theo kết quả điều tra dịch tễ học bệnh tăng huyết áp ở Việt Nam năm 1992 của GS. Trần Đỗ Trinh trên 39,3 triệu người từ 15 tuổi trở lên thuộc 20 tỉnh thành thì tỷ lệ THA chung là 11,7% trong đó tỷ lệ mắc ở nam giới cao hơn so với nữ giới và tỷ lệ THA ở vùng 3 (Nghệ Tĩnh, Quảng Bình, Huế) cao hơn hẳn các vùng khác và các tỉnh đồng bằng sông Hồng có tỷ lệ THA thấp nhất trong các vùng[15].
Nhưng đến năm 2002, theo kết quả điều tra tần suất mắc THA ở người trưởng thành (từ 25 tuổi trở lên) ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam của GS. Phạm Gia Khải, tần suất THA ở miền Bắc Việt Nam là 16,32%, tần suất THA ở các địa phương có sự khác biệt đáng kể trong đó cao nhất ở vùng thành thị (23,2%), sau đó tới vùng duyên hải (16,6%) và cuối cùng là hai vùng đồng bằng và trung du (12,4% và 13,9%). Tần suất THA cộng gộp của khu vực thành thị miền Bắc Việt Nam là 22,72% cao hơn nhiều so với khu vực nông thôn và tỷ lệ THA ở nam giới cao hơn nữ giới (19% và 14,6%)[14]. Kết quả khảo sát năm 2005 trên những người dân sống tại Thành phố Cần Thơ trong độ tuổi từ 25 đến 64, tỷ lệ THA của người dân Thành phố Cần Thơ là 21,5% trong đó tỷ lệ nam bị THA cao hơn nhiều so với nữ giới (27,3% và 16,2%)[28].
Và đến năm 2008, theo kết quả điều tra dịch tễ THA ở những người trưởng thành từ 25 tuổi trở lên tại 8 tỉnh và thành phố của Việt Nam của GS. Nguyễn Lân Việt cho thấy tỷ lệ THA ở người lớn Việt Nam ≥ 25 tuổi là 25,1%, cao nhất ở khu vực các thành phố (34,7%) và thấp nhất ở vùng duyên hải ven biển (20,5%) và tỷ lệ THA vùng thành thị gần gấp đôi ở vùng nông thôn[18]. Kết quả này cho thấy tần suất THA tăng nhanh ở Việt Nam trong một vài thập niên qua và tỷ lệ THA ở khu vực thành thị cao hơn rất nhiều ở khu vực nông thôn và tỷ lệ THA 8 ở nam giới có xu hướng cao hơn nữ giới. Như vậy, với dân số Việt Nam hiện nay khoảng 88 triệu dân thì ước tính sẽ có khoảng 11 triệu người bị THA.
Để quản lý và giám sát bệnh THA hiệu quả ở cộng đồng, cần phối hợp việc điều trị thuốc hạ áp với những biện pháp can thiệp các yếu tố nguy cơ THA nhằm thay đổi các hành vi lối sống theo chiều hướng có lợi cho người THA. Điều kiện quyết định là phải nâng cao nhận thức, tìm hiểu các rào cản trong suy nghĩ và thực hành của người dân để có thể xây dựng, thay đổi và điều chỉnh các biện pháp giáo dục sức khoẻ phù hợp và có hiệu quả với từng địa phương. Vậy cần phải có nhiều nghiên cứu về bệnh tăng huyết áp và các yếu tố liên quan ở nhiều địa phương khác nhau để có thể đưa ra những kế hoạch chiến lược, cũng như kế hoạch chi tiết cho chương trình phòng chống bệnh tăng huyết áp tại các địa phương.