Chương I. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài 24 I.Các khái niệm và lý thuyết liên quan 24 II. Cơ sở thực tiễn 34 Chương II. quan niệm của sinh viên về vai trò giới đối với một số 36 vấn đề cơ bản trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản.Quan niệm về quan hệ tình dục và tình dục an toàn.Hiểu biết của sinh viên về tình dục và tình dục an toàn.
Thái độ của sinh viên về tình dục và tình dục an toàn 39 II. Các bệnh lây truyền qua đường tình dục.Hiểu biết về các bệnh lây truyền qua đường tình dục 45 2.Thái độ của sinh viên về các bệnh lây truyền qua đường tình dục 47 III. Các biện pháp tránh thai và nạo phá thai.Hiểu biết về các biện pháp tránh thai và nạo phá thai 50 2.Thái độ của sinh viên về các biện pháp tránh thai và nạo phá thai 57 Chương III.Một số yếu tố ảnh hưởng đến quan niệm của sinh viên 63 về các vấn đề trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản. Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến quan niệm của sinh viên về 63 các vấn đề trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản.
Các phương tiện truyền thông đại chúng 63 2. Môi trường nhà trường 67 3. Gia đình và cộng đồng xã hội 69 II. Xu hướng biến đổi và những thuận lợi và khó khăn của sinh 78 viên khi tiếp cận với vấn đề skss/td hiện nay.Sự thay đổi về lối sống và các chuẩn mực xã hội 2.Những khó khăn và thuận lợi 79 Phần III.
Kết luận và khuyến nghị 85 85 I. Kết luận II. Khuyến nghị 89 3 z Phần I.Tính cấp thiết của đề tài. Xã hội loài người được sinh ra, tồn tại và phát triển dựa trên sự kết hợp và nỗ lực không ngừng của cả phụ nữ và nam giới.Trong lịch sử phát triển vĩ đại đó, có đóng góp lớn lao của sự hiểu biết về giới tính, sức khoẻ sinh sản và bình đẳng giới.
Tuy vậy, dù đã có những lý luận mới, nhưng trên thế giới, ở đâu đó vẫn còn những người phụ nữ không được tạo điều kiện hay bị hạn chế trong việc phát huy tiềm năng cá nhân để đóng góp vào tiến trình phát triển chung của xã hội loài người.Điều đó, đã tạo ra bất công xã hội, bất bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới. Nếu như không có bất công xã hội, không có sự bất bình đẳng giới thì người phụ nữ đã cống hiến được nhiều hơn cho tiến trình phát triển, và do đó sự phát triển của thế giới ngày nay lớn hơn nhiều. Kế thừa và phát huy lý luận mới, các nhà xã hội học và phát triển học cho rằng, ngày nay một xã hội muốn đạt tới sự phát triển bền vững thì cả phụ nữ và nam giới đều cần có cơ hội tiếp cận bình đẳng với các nguồn và lợi ích mà xã hội mang lại, trên cơ sở đó họ mới có điều kiện để phát huy hết tiềm năng, cống hiến cho tiến trình phát triển chung của nhân loại. Một xã hội muốn phát triển bền vững phải đảm bảo sự phát triển cân bằng về giới; ngược lại sự phát triển cân bằng về giới là một trong những điều kiện cơ bản để có sự phát triển bền vững.
Trên cơ sở luận điểm đó, các nhà khoa học xã hội đã đi sâu nghiên cứu về mối quan hệ và sự tương quan giữa phụ nữ và nam giới tồn tại trong các môi trường văn hoá - xã hộ khác nhau, cũng như xem xét mối quan hệ và sự tương quan đó liên quan tới phát triển bền vững như thế nào. Trong số những cái giá phải trả cho sự bất bình đẳng giới thì nặng nề nhất là những tổn hại về cuộc sống con người và chất lượng 4 z cuộc sống.Nhận dạng và đo lường đẩy đủ mức độ của những cái giá phải trả này là rất khó khăn nhưng vô số bằng chứng từ các nước trên khắp thế giới đã chứng tỏ xã hội nào có sự bất bình đẳng giới gay gắt và dai dẳng thì xã hội đó sẽ phải trả giá đắt hơn bằng sự nghèo đói, suy dinh dưỡng, ốm đau và những sự bần cùng khác. Sự bất bình đẳng giới trong việc đến trường và việc làm ở đô thị đã làm gia tăng tỉ lệ nhiễm HIV.Nạn dịch AIDS sẽ lan tràn nhanh chóng hơn trong thập kỷ tới cho đến khi đạt tỉ lệ cứ 1 trong 4 phụ nữ và 1 trong 5 nam giới bị nhiễm HIV, như trường hợp đã xảy ra ở một số nước Tiểu Sahara châu Phi. Tuy phụ nữ, thường phải chịu gánh nặng chủ yếu của sự phân biệt giới, nhưng nam giới cũng không thể tránh khỏi hậu quả.Những quyền bất bình đẳng về làm chủ đất đai hoặc vay vốn đã tước đoạt của phụ nữ những nguồn lực cho cuộc sống hàng ngày của họ và cho việc đảm bảo tuổi già, buộc họ phụ thuộc nhiều hơn vào những người họ hàng là nam giới.
Sự phân biệt giới sâu sắc trong giáo dục đã gây ra sự khác biệt tương ứng về năng lực của phụ nữ và nam giới trong việc thu thập và xử lý thông tin và trong việc giao tiếp. Sự mất cân bằng giới trong việc tiếp cận nguồn lực và quyền lực để lại hậu quả đối với tính tự chủ tương đối của phụ nữ và nam giới và ảnh hưởng của họ đến việc ra các quyết định trong gia đình. Từ đó, tính phụ thuộc và sự rập khuôn trở thành những nguyên nhân phổ biến gây ra tình cảnh vô vọng và nỗi khắc khoải bị đè nén đối với cả nam giới và phụ nữ, dẫn tới những hậu quả thậm chí còn tồi tệ hơn.Hãy lấy căn bệnh AIDS và bạo lực có liên quan tới giới làm ví dụ. Nạn dịch AIDS, sự bất bình đẳng giới làm tăng thêm tỷ lệ nhiễm AIDS.
Một nghiên cứu về thủ đô của 12 nước đang phát triển cho thấy, hai thước đo của sự bất bình đẳng giới gắn liền với tỷ lệ nhiễm bệnh cao hơn giữa những nhóm người lớn có nguy cơ cao, sau khi đã giữ cố định sáu biến số kinh tế xã hội khác ( Over 1998). Đầu tiên trong nhóm người lớn có nguy 5 z cơ cao ( những người làm nghề mại dâm và những bệnh nhân tại các bệnh viện điều trị các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục) thì tỷ lệ cao giữa dân cư thành thị nam giới so với dân cư thành thị nữ giới trong nhóm có độ tuổi về tình dục mạnh nhất là một chỉ báo có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ lây nhiễm cao. Tỷ lệ nam so với nữ vào khoảng 1,2 có lễ có liên quan đến mức cấu về mua bán tình dục trên đầu người cao hơn và điều này có thể làm tăng thêm tốc độ lây nhiễm HIV cả ở trong và ngoài nhóm nhỏ gồm những người làm nghề mại dâm ( mà phần lớn trong số đô là phụ nữ). Hai là, trong số những người lớn có nguy cơ thấp, như phụ nữ có thai, tỷ lệ lây nhiễm bệnh cao hơn ở các thành phố nơi có khoảng cách lớn hơn về tỷ lệ biết chữ giữa nam và nữ.
Trong phép hồi quy nhóm, cả hai biến số này đều có ý nghĩa thống kê. Mỗi năm thế giới có khoảng 19 triệu trường hợp nạo phá thai không an toàn dẫn tới cái chết của 68.000 thai phụ, theo tổ chức Y tế thế giới ( WHO). Trong cuộc nghiên cứu lần đầu tiên trên phạm vi toàn cầu về sức khoẻ giới tính và sinh sản được công bố trên tờ tạp chí y học Lancet, WHO cho biết đối với những người kết hôn muộn, việc quan hệ tình dục trước hôn nhân diễn ra khá nhiều, dẫn đến tỷ lệ có thai ngoài ý muốn, phá thai không an toàn và mắc các bệnh lây qua đường tình dục cao hơn.com/02/11/2006) Dường như cứ một phút qua đi lại có một bà mẹ chết do hậu quả hoặc những biến chứng do thai nghén hoặc do sinh đẻ. Trong số họ, phần lớn là những người còn trẻ hoặc mới bắt đầu làm mẹ.
Không những thế, cứ một bà mẹ tử vong do thai sản thì có khoảng 100 bà mẹ khác bị đau yếu, mất sức lao động hoặc bị tật nguyền hoặc bị những tổn thương sinh lý do hậu quả của các biến chứng thai sản. Theo số liệu thống kê của Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc, tỷ lệ tử vong mẹ khác nhau giữa các châu lực, có tới 99% là những người đang sống ở các nước thuộc thế giới thứ 3, đặc biệt là những phụ nữ ở Đông 6 z và Tây Châu Phi và một số nước ở Châu á cũng như châu Mỹ La Tinh, trong đó có Việt Nam. ở lứa tuổi thành niên, có thể đã có quan hệ tình dục sớm và hậu quả là sẽ có thai ngoài ý muốn của các em, của gia đình và của toàn xã hội. Vì vậy, việc hiểu biết và thực hiện các biện pháp tránh thai phù hợp cho các em ở lứa tuổi thanh niên vào những thời điểm cần thiết là hết sức quan trọng trong tình hình hiện nay.
Có như vậy chúng ta mới có thể ngăn chặn và giảm dần được sự có thai ngoài ý muốn và tình trạng nạo phá thai bừa bãi rất đáng lo ngại của các em ở lứa tuổi thanh niên và vị thành niên hiện nay ở nước ta. Hiện nay, tỷ lệ nạo thai ở lứa tuổi thanh niên và vị thành niên có xu hướng gia tăng. Bên cạnh việc giáo dục và hướng dẫn thanh niên và vị thành niên về tình bạn, tình yêu trong sáng và tình dục lạnh mạnh an toàn, việc giáo dục các em về tác hại của việc nạo hút thai nhằm giúp các em biết bảo vệ sức khoẻ của mình là hết sức quan trọng và cần thiết. Hiểu biết về các biện pháp tránh thai sẽ giúp cho thanh niên và vị thành niên.
Về tác hại của việc nạo phá thai và các bệnh lấy truyền quan đường tình dục sẽ giúp họ có các cách phòng tránh tốt nhất. Tuy nhiên, trong thực thế vẫn còn tỷ lệ đáng kể các em không biết về tác hại của việc nạo phá thai và các bệnh lây truyền qua đường tình dục nên đã để lại hậu quả đáng tiếc cho bản thân các em, cho gia đình và toàn xã hội. Trong một số nghiên cứu mới đây của dự án “ Bình đẳng giới và đẩy mạnh sự tham gia của nam giới trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản”- VIE/97/P11, các số liệu cho thấy thanh niên và vị thành niên hiện nay biết rất ít về khái niệm sức khoẻ sinh sản. Kết quả điều tra cho thấy có tới 26,1% số thanh niên và vị thành niên không biết cụm từ SKSS các KHHGĐ.