Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đuối nước và một số khái niệm liên quan 1.1 Đuối nước/Chết đuối Năm 1997, nghiên cứu của nhóm tác giả F. SCOTT sử dụng định nghĩa về đuối nước trong nghiên cứu của Modell JH thực hiện năm 1993, khi định nghĩa đuối nước là chết ngạt do ngập chất lỏng, đặc biệt là trong nước. Đến năm 2002, tại Đại hội Thế giới về Đuối nước, Tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra định nghĩa “Đuối nước là quá trình suy giảm hô hấp do chìm / ngâm trong chất lỏng” (13). Từ đó đến nay, định nghĩa này được sử dụng rộng rãi.
Trong bài viết “Gọi thuổng là thuổng: các định nghĩa có ý nghĩa về tình trạng sức khoẻ” (Calling a spade a spade: meaningful definitions of health conditions) của Bedirhan T. Üstün & Robert Jakob (14) đăng trên Bản tin của Tổ chức Y tế thế giới đã giải thích rõ hơn về định nghĩa này. Hai tác giả này cho rằng, cho dù là chết đuối hay bất kỳ tình trạng nào khác, một định nghĩa phải thể hiện đầy đủ khái niệm về điều kiện bao gồm: nó là gì, nó được tạo ra như thế nào, và nó không phải là gì. Nói một cách dễ hiểu, chết đuối là tình trạng một người không thể thở được do hoạt động hô hấp bị cản trở khi đường thở bị nước hoặc bất kỳ chất lỏng nào khác xâm nhập.
Quá trình này có thể bao gồm các khía cạnh khác nhau như ngừng thở tự nguyện, giảm lượng oxy trong máu và những thay đổi cơ thể sau đó. Trong nghiên cứu này, định nghĩa “đuối nước” được sử dụng là định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới.2 Phân loại đuối nước Theo Tổ chức Y tế giới WHO, có thể chia đuối nước làm 2 loại: đuối nước ướt (wet drowning) và đuối nước khô (dry drowning) (15). Đuối nước ướt: Nạn nhân hít phải nước gây cản trở quá trình hô hấp và khiến cho hệ tuần hoàn ngừng hoạt động. 5 Đuối nước khô: Đường thở của nạn nhân đóng lại do co thắt do có nước.
Trước đây, khái niệm đuối nước khô thường được sử dụng trong các trường hợp không tìm thấy nước trong phổi khi khám nghiệm tử thi ở những người tử vong do đuối nước (16). Điều này xảy ra khi nạn nhân bị rơi xuống nước, phản xạ thở của họ vẫn còn. Khi họ cố gắng thở, nước đi vào hầu kích thích phản xạ đóng thanh quản và nắp thanh quản và chuyển nước đến dạ dày (17). Với nắp thanh quản bị đóng kín, nạn nhân không thể thở, dẫn đến tử vong, trong khi trong phổi không có nước.
Ngoài hai loại đuối nước này, có một số phân loại đuối nước khác cũng được nhắc đến(17): - Suýt chết đuối (Near drowning): Là tình trạng khi nạn nhân được cứu trước khi tử vong hoặc có khả năng sống sót tạm thời, - Đuối nước nước ngọt (Freshwater drowning): Khi nước vào phổi, cơ thể sẽ hấp thụ nước vào máu, làm thay đổi nồng độ pH, có thể dẫn đến ngừng tim. - Đuối nước mặn (Salt-water drowning): Hiện tượng ngược lại với đuối nước ngọt, khi nước từ máu hấp thụ ngược vào phổi. - Chết đuối thứ cấp (tạm dịch, từ gốc: secondary drowning)(18): Chết đuối thứ cấp xảy ra nếu nước vào phổi, dù ít hay nhiều. Ở đó, nó có thể gây kích ứng niêm mạc phổi và chất lỏng có thể tích tụ, gây ra tình trạng phù phổi.
Nạn nhân sẽ có triệu chứng khó thở và tình trạng này có thể trở nên tồi tệ hơn trong 24 giờ tiếp theo. Tuy nhiên, các phân loại này thường ít được sử dụng vì xa lạ với cộng đồng.3 Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ Nguyên nhân Theo Tổ chức Y tế thế giới, nguyên nhân của đuối nước ở trẻ em chủ yếu do khả năng bơi hạn chế, thiếu sự giám sát của người lớn, không sử dụng các thiết bị an toàn khi hoạt động trong môi trường nước và sử dụng đồ uống có cồn khi bơi lội (15). Một nghiên cứu của David Szpilman và cộng sự năm 2018 đã chỉ ra các nguyên nhân của đuối nước bao gồm: 6 - Chết đuối do chấn thương (ví dụ: lướt sóng, chèo thuyền hoặc tai nạn tàu lượn) - Chết đuối do một bệnh đột ngột như bệnh tim (ví dụ: thiếu máu cục bộ cơ tim, loạn nhịp tim) hoặc bệnh thần kinh (ví dụ: động kinh, đột quỵ) - Bệnh liên quan đến hoạt động lặn (ví dụ: bệnh giảm áp, hội chứng quá áp phổi, bất tỉnh ở vùng nước nông, phù phổi do ngâm nước)(16). Một nguyên nhân nữa được nhắc đến trong một số nghiên cứu chính là thiên tai, cụ thể là lũ lụt (9,19).
Có đến 75% các ca tử vong trong lũ lụt là do đuối nước, dù các ca đuối nước này không được thống kê là tử vong đuối nước trong các báo cáo thống kê chính thức (9). Yếu tố nguy cơ Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng đuối nước, có thể kể đến là tuổi và giới tính; sử dụng rượu bia; nguồn nước thiếu an toàn; tình trạng kinh tế, học thức; di chuyển bằng tàu thuyền không an toàn; thiếu các thiết bị an toàn như áo phao; thiên tai, lũ lụt. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, nam có nguy cơ đuối nước cao hơn nhiều so với nữ (4,5,7,15,20–23). Lí do có thể là do nam giới tham gia vào các hoạt động ở dưới nước nhiều hơn nữ giới, đặc biệt là các công việc ở vùng nước mở.
Các hoạt động giải trí dưới nước cũng ghi nhận sự tham gia của nam nhiều hơn nữ. Tuổi và sự phát triển cũng là một yếu tố liên quan. Trẻ dưới 5 tuổi có tỷ lệ tử vong do đuối nước cao (7,22). Sử dụng rượu bia cũng là một yếu tố nguy cơ được nhắc đến khá nhiều (7,15).
Trong Báo cáo thế giới về phòng chống tai nạn thương tích trẻ em 2008 của WHO, có đến 25% - 50% số ca tử vong ở trẻ vị thành niên và người lớn đuối nước khi tham gia các hoạt động giải trí dưới nước có liên quan đến rượu bia (7). Báo cáo cũng đồng thời nêu ra các yếu tố nguy cơ khác bao gồm bệnh động kinh, thiếu thiết bị an toàn, di chuyển bằng tàu thuyền không an toàn và các yếu tố môi trườn khác như loại hình vùng nước, khí hậu, hoạt động trong ngày nghỉ, tiếp cận điều trị và phục hồi chức năng và kinh tế. Thiếu cơ hội học hành kết hợp với tình trạng nghèo đói có thể là một nhân tố liên quan. Có bằng chứng rằng đuối nước ở trẻ em bị ảnh hưởng từ trình độ văn hóa của người chủ gia đình hoặc người chăm sóc (7).
Điều kiện kinh tế khó khăn cũng làm giới hạn khả 7 năng được đào tạo và tiếp cận thông tin về phòng tránh đuối nước, dẫn đến kiến thức và kỹ năng phòng tránh kém. Thiếu kiến thức, kỹ năng và thái độ phòng tránh đuối nước thể hiện ở việc không nhận biết được nguy hiểm (như dòng chảy ngầm), gặp sự cố bất ngờ trước khi xuống nước (ngã cao, tiếp đất không an toàn); trải nghiệm không mong muốn trong quá trình lặn (mất sức, chìm sâu, không thể tiếp cận mặt nước), khả năng bơi không đủ để sống sót (24). Môi trường sống xung quanh không an toàn: thiếu rào chắn ngăn cách các nguồn nước (9,21,25); xây nhà trên sông, giếng không có nắp đậy, thiếu nhân viên cứu hộ (22) cũng được nhắc đến là yếu tố nguy cơ. Lũ lụt cũng là một yếu tố nguy cơ dù ít được nhắc đến hơn.
Nghiên cứu của Hà Văn Như và Ngô Thị Diện năm 2013 về “Đặc điểm tử vong và chấn thương do thảm họa tự nhiên tại Việt Nam từ năm 2000 đến năm 2012” cho kết quả lũ lụt là nguyên nhân chính gây tử vong với 59,4%, tiếp theo là bão và lũ quét. Về địa điểm tử vong, có tới 62,2% xảy ra trên sông, suối, ao hồ. Đuối nước là nguyên nhân chính gây tử vong trong lũ với 68%. Hoàn cảnh tử vong hàng đầu là đi qua vùng nước lũ và thu nhặt tài sản bị trôi (26).
Nghiên cứu về đuối nước ở trẻ sơ sinh tại Úc năm 2016 có nhắc đến rối loạn nhịp tim, động kinh và tự kỷ là những yếu tố nguy cơ cao dẫn đến đuối nước (27). Tuy nhiên, các yếu tố nguy cơ này ít được nhắc đến hơn.4 Hậu quả đuối nước Nói đến hậu quả của đuối nước, có lẽ chẳng cần bất kỳ một nghiên cứu cụ thể nào, chúng ta đều nhận thức được các hậu quả nghiêm trọng của nó bao gồm: tử vong, ảnh hưởng đến sức khỏe và tạo nên các gánh nặng khác về kinh tế. Tử vong là hậu quả đuối nước nặng nề nhất. Mỗi năm, đuối nước cướp đi mạng sống của khoảng 372,000 người trên toàn thế giới.
Trên 90% các ca tử vong do đuối nước xảy ra ở các nước có thu nhập vừa và thấp (9). Nạn nhân tử vong do đuối nước không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến gia đình của nạn nhân mà còn kéo theo đó các hậu quả khác về mặt kinh tế, nhất là khi nạn nhân có thể là người lao động chính trong gia đình. 8 Các nạn nhân may mắn sống sót sau khi bị đuối nước vẫn phải đối mặt với các ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe (7,28,29). Nghiên cứu của bác sĩ Nguyễn Lê Cát năm 2020 trên các nạn nhân đuối nước cho thấy các cơ quan bên trong cơ thể nạn nhân đuối nước bị tổn thương và ảnh hưởng nghiêm trọng: phổi căng to, phù nề, xuất huyết ở các cơ quan khác như tim, gan, thận, não.
Ngoài ra, khi nạn nhân rơi hoặc ngã xuống nước có thể gây nên các tổn thương khác như: chấn thương phần mềm, gãy xương, tụ máu, chấn thương sọ não (28). Một nghiên cứu khác về các ảnh hưởng đến thần kinh của trẻ không tử vong sau đuối nước cho thấy kết quả nhận thức thần kinh của trẻ em sau sự cố đuối nước không thể được dự đoán chính xác trong quá trình điều trị sớm. Nhiều người trong số những người sống sót sẽ vẫn bị tổn thương thần kinh nghiêm trọng. Thời gian chìm trong nước, nhu cầu hỗ trợ cuộc sống tại nơi xảy ra tai nạn, thời gian hồi sức tim phổi, có hiện tượng thở và tuần hoàn tự phát khi đến phòng cấp cứu hay không là những yếu tố quan trọng liên quan đến sự toàn vẹn hay thiếu hụt chức năng thần kinh của trẻ em là nạn nhân của đuối nước (29).
Tử vong hay sức khỏe suy giảm sẽ ảnh hưởng đến kinh tế của gia đình và tạo gánh nặng cho xã hội (7,20,29–31). Các vụ chết đuối ven biển ước tính tiêu tốn hơn 273 triệu đô la mỗi năm ở Hoa Kỳ và hơn 228 triệu đô la mỗi năm (tính theo đô la Mỹ) ở Brazil.