Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Lịch sử nghiên cứu về giun sán: Giun sán là những ký sinh trùng (KST) có lịch sử xất hiện rất sớm ngay từ khi sơ khai hình thanh trái đất và những sinh vật trên trái đất. Thế kỷ 16 trước công nguyên, những tài liệu Ebers đã nói tới các loại giun sán của người như sán dây, giun đũa, giun kim, giun chỉ. Đến thế kỷ 18 những hiểu biết về giun ngày càng đầy đủ và hoàn chỉnh hơn.
Năm 1879, Cobbold đã xuất bản tài liệu về giun sán ký sinh ở người và động vật. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), các bệnh giun truyền qua đất (Soil- transmitted helminth iases - STH) gồm 3 loại chính là giun đũa, giun tóc và giun móc/mỏ. Bệnh lây truyền từ trứng giun có trong phân người thải ra ngoài làm đất bị nhiễm và bệnh thường xuất hiện tại những khu vực có tình trạng vệ sinh yếu kém, những loại giun ký sinh chủ yếu gây bệnh cho người tuyền qua đất hiện nay là giun đũa, giun tóc và giun móc/mỏ. Giun đũa: Giun đũa tuy đã được đề cập từ lâu trong lịch sử Y học.
Columelle (thế kỉ thứ nhất) cũng đã mô tả nhiều về giun đũa. Nhưng chỉ được Tyson chính thức mô tả vào năm 1683. Tác giả thấy giun ở ruột người có hình dạng giống như giun ở đất, với tên ông đặt là "Lumbricus teres seu intestinalis". Sau đó có nhiều nhà khoa học đã đặt với nhiều tên khác nhau: Ascaris lumbricoides (Linné 1758), Lumbricoides vulgaris (Mérat, 1821), Ascaris suilla (Duardin 1845),.
Đến tận năm 1915, một Ủy ban Quốc tế gồm 66 thành viên của các nước đã chính thức xác nhận tên giun đũa ký sinh và gây bệnh ở người trên danh mục động vật học là Ascaris lumbricoides. [36][37] Tại Việt Nam: Giun đũa (giun đực và giun cái) đều sống ký sinh và ăn dưỡng chất ở ruột non của con người. Giun cái đẻ trứng theo phân ra ngoài. Sau một thời gian ở ngoài môi trường, nhờ tác dụng của nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng.
phôi phát triển thành ấu trùng từ ngoại cảnh lại nhiễm vào người qua đường tiêu hoá. Vào đến ruột non ấu 5 trùng thoát vỏ, chui qua thành ruột vào hệ thống tuần hoàn theo tĩnh mạch cửa lên gan, lên tim, lên phổi, chui vào phế nang, lên khí quản, lên hầu, rồi xuống thực quản, ruột non phát triển thành giun trưởng thành sống trong cơ thể người từ 12-18 tháng. Theo Trương Văn Hội và CS mùa nhiễm giun đũa cao nhất vào tháng 5 và tháng 9. Giun tóc (Trichuris trichiura) Đến năm 1941, một tổ chức những nhà chuyên gia ký sinh trùng châu Mỹ thống nhất gọi tên là Trichuris trichiura.
[36][37] Giun tóc có vòng đời đơn giản, giun đực và cái ký sinh ở manh tràng, đại tràng và đôi khi ở ruột thừa. Khi ký sinh giun cắm đầu vào thành ruột để hút máu, phần đuôi ở ngoài lồng ruột. Giun cái đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoại cảnh, khi gặp điều kiện thuận lợi trứng sẽ phát triển đến giai đoạn trứng có ấu trùng lúc đó mới có khả năng lây nhiễm vào người theo đường tiêu hoá. Thời gian phát triển ở ngoại cảnh trung bình khoảng 2 tuần.
Khi người nuốt phải trứng có ấu trùng vào ruột, ấu trùng thoát vỏ ở ruột non rồi đi dần xuống đại tràng, manh tràng phát triển thành giun trưởng thành và ký sinh ở đó. Thời gian từ khi nhiễm trứng tới khi giun tóc bắt đầu đẻ trứng khoảng 1 tháng. Giun sống trong người khoảng 5-6 năm. Như vậy, giun tóc chỉ có một vật chủ và cần giai đoạn phát triển trứng ở ngoại cảnh.[26] Nhiệt độ thích hợp để trứng phát triển thành trứng có ấu trùng gây nhiễm là 25C - 30C, thời gian phát triển là 17-30 ngày.
Nếu nhiệt độ quá 50C phần lớn trứng sẽ bị hỏng, nhiệt độ trên 30C kéo dài thì trứng sẽ chết sau 1 tháng. Năm 1843, Dubini phát hiện ra giun móc trưởng thành từ tử thi của 6 một phụ nữ người Milan, ông đã mô tả tỉ mỉ về ký sinh trùng này rồi đặt tên là Ancylostoma duodenale. Đến 1915, một Ủy ban Quốc tế gồm 66 nhà khoa học thống nhất gọi tên giun móc là Ancylostoma duodenale trên danh mục động vật học.W đã mô tả một loại giun tròn giống với A. duodenale, nhưng có cấu tạo khác nhau ở đầu và đuôi của con giun, ông đã mô tả và đặt tên giun mỏ là Necartor americanus.
[36][37] Giun móc/mỏ trưởng thành sống ký sinh ở tá tràng và có thể phần đầu của ruột non. Chúng dùng mỏ ngoạm vào niêm mạc ruột để chiếm thức ăn. Một ngày giun cái đẻ khoảng 3000 trứng, trứng theo phân ra ngoại cảnh, gặp điều kiện thuận lợi sau 24 giờ trứng nở ra ấu trùng sinh sống và tồn tại trong đất. Ấu trùng có khả năng di chuyển và xâm nhập qua da vào cơ thể người.
Sau khi chui qua da ấu trùng vào hệ thống tuần hoàn về tim, lên phổi và chui vào phế nang theo khí quản lên họng, đến thực quản xuống tá tràng, ruột non, phát triển thành giun trưởng thành. Từ ấu trùng chui qua da đến giun trưởng thành mất khoảng từ 5-7 tuần. Đặc biệt, trong quá trình chu du trong cơ thể người ấu trùng giun móc có thể tạm dừng ở tổ chức (giai đoạn ngủ), giai đoạn này có thể kéo dài tới 8 tháng, thời gian này có khả năng kháng lại thuốc điều trị giun. Hiện tượng ngủ của ấu trùng cũng có thể xảy ra ở động vật có vú, cho nên có thể nhiễm ấu trùng giun móc khi ăn thịt động vật ở dạng chưa nấu chín.
Giun trưởng thành có thể sống trong cơ thể người từ 5-7 năm. [2][29] Giai đoạn phát triển ngoại cảnh rất quan trọng đối với vòng đời của giun móc/mỏ, điều kiện thích hợp để trứng phát triển thành ấu trùng là nhiệt độ từ 25C - 30C, có đủ oxy, độ ẩm.[15] Do đặc điểm vòng đời sinh học của các loại giun có khác nhau, nên bệnh lý do chúng gây nên cũng rất đa dạng và phức tạp, ở nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau mà ấu trùng chu du đi qua hoặc tại nơi giun cư trú. Tình hình nhiễm giun trên Thế Giới và Việt Nam 1. Tình hình nhiễm giun của trẻ em trên Thế Giới: 7 Nhiễm giun là bệnh thường gặp nhất ở người, hay gặp ở các nước nhiệt đới, phần lớn các nước đang phát triển là vùng nhiễm kí sinh trùng.
Theo thống kê của WHO 2004, có đến 230 triệu trẻ em từ 0-4 tuổi bị nhiễm giun, vùng bị nhiễm nhiều nhất là vùng châu Á, Trung quốc, Ấn độ và sa mạc Sahara [40]. Năm 1997 tại Ấn Độ, Awashi. S và cộng sự nghiên cứu 1061 trẻ em từ 18-42 tháng tuổi thấy tỷ lệ nhiễm kí sinh trùng đường ruột là 17,5%, trong đó nhiễm giun đũa chiếm 68,1% [34]. Tại Kenya, Olsen A và cộng sự cho thấy 16% trẻ nhiễm giun đũa, 63% nhiễm giun móc và 24% nhiễm giun tóc [22].
Bệnh giun đũa rất phổ biến trên thế giới, có mặt hầu hết các châu lục, Châu Á có tỷ lệ nhiễm giun đũa cao nhất, khoảng 70%; Châu Phi là 32,32%; các nước Châu Mỹ có tỷ lệ nhiễm khoảng 8%. Tình trạng nhiễm giun đũa ở trẻ em tại một số nước Đông Nam Á: Thủ đô Kuala Lumpur có tỷ lệ nhiễm giun 15,5%, ở Sulawesi có tỷ lệ nhiễm 59,8%, Sukaraja có tỷ lệ nhiễm 44%, Philippin có tỷ lệ nhiễm 70,6% Do tính chất sinh thái giống nhau giữa giun tóc và giun đũa nên các vùng có bệnh giun đũa đều có bệnh giun tóc. Bệnh giun tóc phổ biến ở các vùng nhiệt đới Châu Phi và vùng Đông Nam Á [1]. Ở Jamaicar, tỷ lệ trẻ em nhiễm giun tóc là 38,3%, Guatemala tỷ lệ trẻ em nhiễm giun tóc là 82%.
Ở Indonesia có tỷ lệ nhiễm từ 54,9%- 76,0%. Tỷ lệ nhiễm ở trẻ em Philippin là 85,0%. Bệnh giun móc cũng gặp ở hầu hết các nước trên thế giới, nhưng chủ yếu ở các nước nhiệt đới như Nam Mỹ, Châu Phi, Nam Á, Đông Nam Á và một số nước Châu Âu. Các nước khu vực Đông Nam Á, tỷ lệ nhiễm phục thuộc vào từng nước, từng khu vực: Thái Lan là 40.56%, Indonesia năm 1980 là 52%-80%, Malaysia 43-51%, Singapore tỷ lệ nhiễm thấp: 0,3%-6,1%; Lào 2%-31%, Campuchia 35-56% [18].
Tình hình nhiễm giun của trẻ em ở Việt Nam: Việt Nam nằm ở vùng Đông Nam Á, có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm. Vì vậy có đầy đủ các yếu tố về: khí hậu, thổ nhưỡng cho các bệnh giun truyền qua đất phát triển. Mặt khác nền kinh tế chưa phát triển, văn hóa xã hội còn nhiều phong tục tập quán như 8 ăn rau sống, dùng phân tươi trong canh tác. Tất cả các yếu tố trên đã tạo điều kiện cho mầm bệnh giun sán tồn tại và phát triển, vì vậy tỷ lệ nhiễm giun truyền qua đất ở Việt Nam rất cao [21].
WHO đề nghị cộng đồng được xếp loại có tỷ lệ nhiễm giun cao khi 50% số người thuộc cộng đồng có kết quả xét nghiệm dương tính. Những vùng có tỷ lệ giun móc lưu hành là những vùng có tỷ lệ nhiễm giun móc trên 20-30% [41]. Ở Việt Nam, nhiễm giun là vấn đề sức khỏe cộng đồng. Trên toàn quốc ước tính số người nhiễm giun đũa khoảng 60 triệu, giun tóc 40 triệu và giun móc 40 triệu, tỷ lệ nhiễm nói chung từ 50-60% [9], [6].
Đặc biệt, tỷ lệ đa nhiễm hai, ba loại giun rất cao, đạt 60-70%. Riêng trẻ em, tỷ lệ nhiễm giun từ 36,1-99,8%; trong đó, nhiễm giun Đũa 30,4-93,9%, giun Móc 6,4-70,2%, giun Tóc 0,7-86,6 %. Cường độ nhiễm giun khá cao, 1 gam phân có 8,199 trứng giun Đũa, 264 giun Tóc [15]. Theo nghiên cứu của Vũ Văn Thái và cộng sự, tỷ lệ nhiễm giun đũa ở trẻ từ 2 - 5 tuổi là 42,8% - 66% [26].
Tác hại của giun đũa, tóc, móc/mỏ đối với sức khoẻ, bệnh tật trẻ em Bệnh giun đường ruột gây tác hại rộng lớn trong nhân dân một cách thầm lặng và lâu dài. Bệnh gây tác hại cho mọi lứa tuổi đặc biệt là trẻ em, làm chậm sự phát triển thể chất và tinh thần trẻ em ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng. Tác hại giun đũa: Giun đũa là loại giun gây nhiều tác hại nhất trong loại giun đường ruột. Chiếm đoạt chất dinh dưỡng là tác hại hàng đầu của giun đũa.
Theo thông báo của tổ chức Y tế thế giới Who, cứ 20 giun đũa trong một ngày sử dụng 2,8g carbonhydrate và 0,7 mg protein. Bên cạnh đó giun đũa còn chiếm vitamin, đặc biệt là vitamin A và D.[23] Ngoài tác hại chiếm chất dinh dưỡng giun đũa còn gây ra những biến chứng nguy hiểm do sự di chuyển của giun.