Tổng quan nghiên cứu

Viêm gan virus B (HBV) là một trong những thách thức y tế công cộng nghiêm trọng nhất trên phạm vi toàn cầu. Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), thế giới hiện có khoảng 2 tỷ người đã từng tiếp xúc hoặc đang mang virus viêm gan B, và mỗi năm ghi nhận xấp xỉ 600.000 ca tử vong bắt nguồn từ các biến chứng mạn tính như suy gan, xơ gan và ung thư tế bào gan nguyên phát. Việt Nam thuộc khu vực dịch tễ lưu hành cao với ước tính 8,6 triệu người nhiễm bệnh, tỷ lệ nhiễm mạn tính chiếm khoảng 8,8% ở nữ giới và 12,3% ở nam giới, trong khi tỷ lệ mang kháng nguyên bề mặt HBsAg trong cộng đồng dao động từ 15% đến 25%.

Lứa tuổi học sinh trung học phổ thông (THPT) từ 15 đến 18 tuổi đại diện cho giai đoạn chuyển giao quan trọng về thể chất và tâm sinh lý. Đây là nhóm đối tượng bắt đầu có nguy cơ tiếp xúc với các con đường lây nhiễm virus qua sinh hoạt cá nhân và quan hệ tình dục sớm (với độ tuổi bắt đầu quan hệ trung bình trong các nghiên cứu vị thành niên là khoảng 16,1 tuổi và tỷ lệ có quan hệ tình dục ghi nhận khoảng 4,9%). Tuy nhiên, nhiều học sinh trong giai đoạn này chưa được bao phủ đầy đủ bởi chương trình tiêm chủng mở rộng lúc sơ sinh hoặc chưa tiêm nhắc lại, dẫn đến tỷ lệ nhiễm trong nhóm học sinh - sinh viên theo một số khảo sát dịch tễ lên đến 11,6%.

Luận văn thạc sĩ Y tế công cộng của tác giả Lê Khánh Nhung, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Thúy Quỳnh tại Trường Đại học Y tế Công cộng, đã triển khai đề tài: "Kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu tố liên quan đến phòng bệnh viêm gan B của học sinh Trường Trung học phổ thông Phan Đình Phùng, Thành phố Đồng Hới, Tỉnh Quảng Bình năm 2014". Đề tài tập trung vào hai mục tiêu then chốt: mô tả thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) phòng bệnh của 557 học sinh và xác định các yếu tố liên quan mang tính tác động can thiệp. Nghiên cứu mang giá trị thực tiễn to lớn trong việc thiết lập bằng chứng dịch tễ cơ sở tại địa phương, hỗ trợ nâng cao nhận thức, giảm thiểu nguy cơ phơi nhiễm và định hình chính sách y tế học đường dài hạn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sức khỏe của Karen Glanz và cộng sự, tích hợp chặt chẽ cấu trúc đánh giá Kiến thức - Thái độ - Thực hành (KAP). Mô hình phân tích hành vi phòng ngừa viêm gan B dựa trên ba nhóm yếu tố cốt lõi:

  1. Nhóm yếu tố tiền đề (Predisposing factors): Bao gồm đặc điểm nhân khẩu học (giới tính, khối lớp), kiến thức nền tảng về căn nguyên virus HBV, các phương thức lây truyền qua đường máu, quan hệ tình dục, mẹ truyền sang con và nhận thức về phác đồ tiêm chủng. Đi kèm với đó là thái độ, niềm tin của học sinh về mức độ nguy hiểm của bệnh, nhận thức về nguy cơ phơi nhiễm cá nhân và định kiến kỳ thị đối với người nhiễm virus.
  2. Nhóm yếu tố tăng cường/củng cố (Reinforcing factors): Sự tác động, khuyến khích, tư vấn và nhắc nhở thường xuyên từ mạng lưới xã hội gần gũi bao gồm cha mẹ, người thân trong gia đình, thầy cô giáo chủ nhiệm, bạn bè cùng trang lứa và nhân viên y tế học đường.
  3. Nhóm yếu tố tạo điều kiện thuận lợi (Enabling factors): Môi trường tiếp cận thông tin giáo dục sức khỏe (GDSK), bao gồm các buổi truyền thông đầu năm học của nhà trường, bản tin chuyên đề tại phòng y tế học đường, bài giảng tích hợp trong môn Sinh học lớp 10, cùng các kênh thông tin đại chúng như truyền hình, phát thanh và báo chí.

Các khái niệm chuyên ngành được vận dụng chuẩn xác bao gồm: virus viêm gan B (HBV - virus chứa ADN thuộc họ Hepadnaviridae), kháng nguyên bề mặt HBsAg, kháng thể bảo vệ Anti-HBs (với chuẩn nồng độ bảo vệ đạt trên 10 UI/L), miễn dịch thụ động bằng kháng huyết thanh HBIG và phác đồ tạo miễn dịch chủ động với 3 mũi vaccine cơ bản.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích (Cross-sectional analytical study), triển khai từ tháng 11/2013 đến tháng 9/2014 tại Trường THPT Phan Đình Phùng, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.

  • Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước lượng một tỷ lệ trong quần thể với độ tin cậy 95%, cỡ mẫu thực tế thu thập đạt 557 học sinh trên tổng số 1.121 học sinh toàn trường (đạt tỷ lệ phản hồi 100%). Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng kết hợp chọn mẫu cụm hai giai đoạn được áp dụng: Giai đoạn 1 phân tầng theo 3 khối lớp (khối 10, 11 và 12); Giai đoạn 2 bốc thăm ngẫu nhiên chọn ra 18 lớp (gồm 6/10 lớp khối 10, 6/11 lớp khối 11 và 6/11 lớp khối 12) để khảo sát toàn bộ học sinh trong cụm lớp được chọn.
  • Công cụ và tổ chức thu thập: Sử dụng bộ câu hỏi chuẩn hóa tự điền khuyết danh gồm 4 phần (thông tin chung, kiến thức, thái độ, thực hành). Bảng hỏi được thử nghiệm tiền khả thi trên 50 học sinh trước khi áp dụng chính thức để chuẩn hóa thuật ngữ và loại trừ sai số thông tin.
  • Phương pháp phân tích số liệu: Toàn bộ dữ liệu được làm sạch và nhập liệu hai lần bằng phần mềm EpiData 3.1 nhằm kiểm soát lỗi nhập liệu, sau đó trích xuất phân tích trên phần mềm SPSS 16.0. Các biến số định tính được mô tả bằng tần số và tỷ lệ phần trăm. Phép kiểm định Khi bình phương ($\chi^2$) và phân tích hồi quy đơn biến/đa biến để xác định tỷ suất chênh (Odds Ratio - OR) với khoảng tin cậy 95% ($p < 0,05$), giúp lượng hóa chính xác mối liên quan giữa các yếu tố củng cố, tạo điều kiện với hành vi sức khỏe của học sinh.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát trên 557 học sinh (gồm 313 nam chiếm 56,2% và 244 nữ chiếm 43,8%; phân bổ 169 học sinh lớp 10, 212 học sinh lớp 11 và 176 học sinh lớp 12) đã ghi nhận các kết quả đáng chú ý:

  1. Thực trạng kiến thức về bệnh và phòng bệnh còn nhiều lỗ hổng: Tỷ lệ học sinh có kiến thức chung không đạt chiếm tới 78,1% (chỉ 21,9% đạt từ 11/16 điểm trở lên). Đáng chú ý, chỉ 28,2% học sinh trả lời chính xác nguyên nhân gây bệnh là do virus, trong khi 71,8% đưa ra nhận định sai (nhầm với vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng, do uống rượu hoặc di truyền) hoặc không biết. Về đường lây truyền, chỉ có 39,5% nhận biết lây từ mẹ sang con, 35,0% biết qua đường truyền máu, 30,7% biết qua quan hệ tình dục không an toàn và 30,7% nhận biết việc dùng chung vật dụng cá nhân có thể lây bệnh; ngược lại vẫn có 21,9% nhầm lẫn bệnh lây qua đường ăn uống và 10,8% cho rằng lây qua muỗi đốt. Dù 71,3% biết đến giải pháp tiêm vaccine, nhưng chỉ 14,7% nắm rõ yêu cầu phải tiêm đủ từ 3 mũi trở lên để có miễn dịch.
  2. Thái độ phòng bệnh chưa tương xứng với mức độ nguy cơ: Tỷ lệ học sinh có thái độ chung chưa đúng chiếm 61,4% (chỉ 38,6% đạt điểm chuẩn thái độ từ 40/50 trở lên trên thang đo Likert 5 mức độ). Dù 72,4% học sinh thừa nhận viêm gan B là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm gây hậu quả nặng nề, nhưng có đến 74,7% học sinh có tâm lý chủ quan, không tin rằng bản thân có nguy cơ phơi nhiễm hoặc mắc bệnh.
  3. Tỷ lệ thực hành đúng đạt mức rất thấp: Tỷ lệ học sinh có thực hành chung không đúng lên tới 82,0% (chỉ 18,0% đạt yêu cầu). Đa số học sinh chưa từng chủ động thực hiện xét nghiệm tầm soát HBsAg và tỷ lệ tiêm đủ 3 mũi vaccine phòng ngừa còn hạn chế do thiếu thông tin về địa điểm và chi phí dịch vụ.
  4. Mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm yếu tố:
    • Yếu tố tiếp cận truyền thông đại chúng nâng cao rõ rệt kiến thức đạt của học sinh ($OR = 2,38; p = 0,02$).
    • Học sinh có kiến thức đạt có thái độ tích cực gấp 2,01 lần so với nhóm không đạt ($OR = 2,01; p = 0,001$).
    • Sự quan tâm, tư vấn và nhắc nhở từ phía gia đình là yếu tố củng cố then chốt giúp tăng khả năng thực hành đúng lên 2,56 lần ($OR = 2,56; p = 0,006$).
    • Học sinh thường xuyên tiếp cận chương trình truyền thông có xác suất thực hành đúng cao gấp 2,79 lần ($OR = 2,79; p = 0,02$).
Mức độ đạt chuẩn KAP về phòng bệnh Viêm gan B ở học sinh (n=557)

Thảo luận kết quả

Khi đối chiếu với các công bố khoa học trong nước, thực trạng nhận thức tại Trường THPT Phan Đình Phùng phản ánh bức tranh chung của học sinh, sinh viên Việt Nam:

  • So sánh tỷ lệ kiến thức và thực hành: Tỷ lệ kiến thức đạt trong nghiên cứu này (21,9%) tương đồng với kết quả của Trịnh Văn Nghinh tại Gia Lâm, Hà Nội (22,9% kiến thức đạt, 24,2% thực hành đạt), nhưng thấp hơn đáng kể so với sinh viên đại học trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Thúy Vinh (66,7% kiến thức đạt) và học sinh - sinh viên khối ngành y tế của Nguyễn Trần Tuấn Kiệt tại Đồng Nai (77,1% kiến thức đạt). Sự chênh lệch này bắt nguồn từ việc học sinh THPT chưa được tiếp cận sâu với các chương trình y sinh học chuyên biệt.
  • Phân tích nguyên nhân nhận thức sai lệch: Việc 74,7% học sinh không tin bản thân có khả năng mắc bệnh là do viêm gan B mạn tính thường tiến triển âm thầm, không có triệu chứng lâm sàng rầm rộ trong giai đoạn đầu. Sự ngộ nhận về đường lây qua ăn uống (21,9%) hay muỗi đốt (10,8%) cho thấy các thông điệp truyền thông trước đây thường bị đánh đồng giữa viêm gan B với viêm gan A hoặc sốt xuất huyết.
  • Vai trò của gia đình và nhà trường: Dữ liệu nghiên cứu chứng minh mối tương quan thuận giữa yếu tố gia đình và thực hành đúng ($OR = 2,56$). Điều này khẳng định rằng ở lứa tuổi 15-18, quyết định tiêm chủng dịch vụ hay duy trì thói quen không dùng chung vật dụng cá nhân bén nhọn chịu sự chi phối trực tiếp từ định hướng và điều kiện kinh tế của phụ huynh (81,7% gia đình học sinh thuộc diện thu nhập khá).

Các phân tích số liệu trên có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua bảng phân bố tần số chéo giữa kiến thức và thực hành, kết hợp biểu đồ thanh biểu diễn tỷ suất chênh hiệu chỉnh nhằm làm nổi bật vai trò của các kênh truyền thông học đường.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng thực nghiệm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp can thiệp đồng bộ, có tính hành động cao nhằm cải thiện chỉ số KAP cho học sinh:

  1. Xây dựng chương trình truyền thông học đường chuyên biệt:
    • Hành động: Ban Giám hiệu phối hợp với Đoàn Thanh niên thiết kế bản tin phát thanh định kỳ 2 tuần/lần, tích hợp các chuyên đề ngoại khóa trực quan và lồng ghép sâu nội dung dịch tễ học viêm gan B vào môn Sinh học lớp 10.
    • Chỉ số mục tiêu: Nâng tỷ lệ học sinh hiểu đúng nguyên nhân virus và đường lây truyền từ 28,2% lên trên 80% trong vòng 12 tháng.
    • Chủ thể thực hiện: Ban Giám hiệu, giáo viên bộ môn Sinh học, Đoàn trường.
  2. Nâng cao năng lực tư vấn của Phòng Y tế học đường:
    • Hành động: Kiện toàn trang thiết bị, cung cấp tài liệu truyền thông chuẩn hóa, tổ chức góc tư vấn sức khỏe sinh sản và bệnh truyền nhiễm vị thành niên; chủ động phát hiện và tư vấn chuyển gửi các trường hợp có nguy cơ phơi nhiễm.
    • Chỉ số mục tiêu: Đạt 100% học sinh được tiếp cận tờ rơi hướng dẫn phác đồ tiêm chủng $\ge 3$ mũi và địa chỉ cơ sở tiêm chủng uy tín tại Đồng Hới.
    • Chủ thể thực hiện: Nhân viên chuyên trách y tế học đường.
  3. Thiết lập cơ chế phối hợp giữa Nhà trường và Phụ huynh học sinh:
    • Hành động: Đưa nội dung phòng chống viêm gan B vào các kỳ họp phụ huynh đầu năm; gửi thông điệp nhắc nhở phụ huynh chủ động đưa con em đi xét nghiệm sàng lọc HBsAg/Anti-HBs và hoàn thành lịch tiêm phòng.
    • Chỉ số mục tiêu: Tăng tỷ lệ học sinh nhận được sự nhắc nhở từ gia đình từ 41,7% lên ít nhất 75% trong năm học kế tiếp.
    • Chủ thể thực hiện: Ban đại diện cha mẹ học sinh, giáo viên chủ nhiệm.
  4. Tổ chức chiến dịch tầm soát và tiêm chủng vắc xin học đường:
    • Hành động: Liên kết với Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Quảng Bình tổ chức các đợt khám sức khỏe chuyên đề, xét nghiệm nhanh và cung ứng gói tiêm chủng vaccine viêm gan B với mức chi phí ưu đãi ngay tại trạm y tế hoặc trường học.
    • Chỉ số mục tiêu: Nâng tỷ lệ học sinh được tiêm chủng đủ liều phòng bệnh từ 14,7% lên tối thiểu 50% trong giai đoạn 2014-2016.
    • Chủ thể thực hiện: Trung tâm Y tế dự phòng địa phương, Trạm Y tế phường phối hợp với nhà trường.
Lộ trình thực hiện khuyến nghị can thiệp (2014 - 2016)

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu cung cấp khối lượng dữ liệu thực chứng và cơ sở lý luận giá trị cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  • Cán bộ quản lý giáo dục và Ban Giám hiệu các trường THPT: Cung cấp mô hình tham chiếu thực tiễn để đánh giá khoảng trống nhận thức của học sinh, từ đó xây dựng kế hoạch giáo dục sức khỏe vị thành niên lồng ghép trong chương trình chính khóa và hoạt động ngoài giờ lên lớp.
  • Cán bộ Y tế học đường và Nhân viên Y tế dự phòng cơ sở: Cung cấp tài liệu nghiệp vụ để thiết kế các can thiệp truyền thông trực tiếp, tài liệu tư vấn tiêm chủng phù hợp với tâm lý học sinh THPT, đồng thời tham khảo bộ công cụ khảo sát chuẩn hóa đã được kiểm định độ tin cậy.
  • Học viên cao học, Nghiên cứu sinh ngành Y tế công cộng và Dịch tễ học: Cung cấp khung lý thuyết hành vi sức khỏe của Glanz áp dụng vào bối cảnh học đường, quy trình chọn mẫu phân tầng cụm 2 giai đoạn chuẩn mực và phương pháp xử lý số liệu dịch tễ bằng SPSS/EpiData phục vụ nghiên cứu mở rộng.
  • Các tổ chức phi chính phủ, Đoàn Thanh niên và Cha mẹ học sinh: Sử dụng kết quả nghiên cứu làm bằng chứng vận động chính sách tiêm chủng bổ sung cho thanh thiếu niên, nâng cao nhận thức của gia đình trong việc bảo vệ sức khỏe sinh sản và phòng ngừa bệnh truyền nhiễm cho con em.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao học sinh THPT lại là đối tượng có nguy cơ cao nhiễm virus viêm gan B?

Học sinh THPT (15-18 tuổi) bước vào giai đoạn trưởng thành thể chất và bắt đầu phát sinh quan hệ tình dục nhưng thiếu hụt kiến thức an toàn. Nhóm này thường chưa được bao phủ tiêm chủng đầy đủ từ sơ sinh, dễ dùng chung các dụng cụ có nguy cơ lây nhiễm qua đường máu như dao cạo, dụng cụ làm móng, xăm trổ mà không hay biết.

2. Tỷ lệ học sinh hiểu đúng về nguyên nhân gây bệnh viêm gan B trong nghiên cứu là bao nhiêu?

Nghiên cứu trên 557 học sinh ghi nhận chỉ có 28,2% trả lời chính xác nguyên nhân là do virus. Có tới 71,8% học sinh hiểu sai khi cho rằng bệnh do vi khuẩn, nấm, di truyền, ăn uống mất vệ sinh, hoặc hoàn toàn không biết nguyên nhân gây bệnh.

3. Sự tác động từ gia đình có ảnh hưởng như thế nào đến thực hành phòng bệnh của học sinh?

Kết quả phân tích thống kê khẳng định sự nhắc nhở và định hướng từ gia đình là yếu tố tăng cường mang tính quyết định. Những học sinh nhận được tư vấn từ cha mẹ có khả năng thực hành phòng bệnh đúng cao gấp 2,56 lần ($OR = 2,56; p = 0,006$) so với nhóm không nhận được sự hỗ trợ.

4. Cần tiêm bao nhiêu mũi vaccine viêm gan B để tạo được miễn dịch bảo vệ hiệu quả?

Phác đồ tiêm chủng chuẩn yêu cầu tiêm đủ tối thiểu 3 mũi vaccine (theo lịch 0-1-6 tháng). Nghiên cứu cho thấy có 71,3% học sinh biết đến biện pháp tiêm phòng nhưng chỉ có 14,7% biết chính xác cần tiêm từ 3 mũi trở lên để đạt nồng độ kháng thể bảo vệ Anti-HBs trên 10 UI/L.

5. Yếu tố nào đóng vai trò quan trọng nhất trong việc cải thiện kiến thức phòng bệnh cho học sinh?

Yếu tố tạo điều kiện thuận lợi thông qua việc tiếp cận các phương tiện thông tin đại chúng và chương trình giáo dục sức khỏe có tác động lớn nhất. Học sinh tiếp cận thường xuyên với truyền thông có kiến thức đạt cao gấp 2,38 lần ($OR = 2,38; p = 0,02$) so với học sinh không tiếp cận.

Kết luận

  • Luận văn đã phác thảo bức tranh toàn diện về thực trạng nhận thức của 557 học sinh THPT Phan Đình Phùng với tỷ lệ chưa đạt rất cao: kiến thức không đạt 78,1%, thái độ không đúng 61,4% và thực hành không đúng 82,0%.
  • Tỷ lệ nhận biết chính xác nguyên nhân virus chỉ đạt 28,2% và chỉ có 14,7% học sinh nắm rõ phác đồ tiêm đủ từ 3 mũi vaccine phòng bệnh.
  • Nghiên cứu đã chứng minh bằng chứng dịch tễ về mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa việc tiếp cận truyền thông với kiến thức ($OR = 2,38$), kiến thức với thái độ ($OR = 2,01$), cũng như tác động nhắc nhở từ gia đình ($OR = 2,56$) và truyền thông ($OR = 2,79$) đối với thực hành đúng.
  • Kế hoạch can thiệp trong giai đoạn tiếp theo cần tập trung tối ưu hóa vai trò của y tế học đường, lồng ghép truyền thông trong trường học và phát động chiến dịch tiêm chủng mở rộng tại địa phương.
  • Các cấp quản lý giáo dục và y tế cần nhanh chóng triển khai các khuyến nghị can thiệp ngay trong năm học tới nhằm kiểm soát triệt để nguy cơ lây nhiễm virus viêm gan B trong trường học.