Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặt điểm giải phẫu của răng Răng gồm có 3 phần thân răng, chân răng và cổ răng. Thân răng gồm có men răng và ngà răng. Chân răng gồm có xương răng, ngà răng và tủy răng.
Cổ răng là ranh giới giữa thân răng và chân răng [6]. Men răng Men răng là mô cứng nhất trong cơ thể, có nguồn gốc từ ngoại bì, có tỷ lệ chất vô cơ cao nhất (khoảng 96%). Men răng phủ toàn bộ thân răng dày mỏng tùy vị trí khác nhau, dày nhất ở núm răng là 1,5mm và mỏng nhất ở vùng cổ răng. Men răng không có sự bồi đắp thêm mà chỉ mòn dần theo tuổi, nhưng có sự trao đổi về vật lý và hóa học với môi trường trong miệng [15], [20].
Ngà răng Có nguồn gốc từ trung bì, kém cứng hơn men, chứa tỷ lệ chất vô cơ thấp hơn men (75%). Trong ngà răng có nhiều ống ngà, chứa đuôi bào tương của nguyên bào ngà. Bề dày ngà răng thay đổi trong đời sống do hoạt động của nguyên bào ngà, ngà răng ngày càng dày theo hướng về phía hốc tủy răng, làm hẹp dần ống tủy [15],[20]. Tủy răng Là mô liên kết mềm, nằm trong hốc tủy gồm tủy chân và tủy thân.
Tủy răng trong buồng tủy gọi là tủy thân, tủy buồng. Tủy răng trong ống tủy gọi là tủy chân. các nguyên bào ngà nằm sát vách hốc tủy [15]. Tủy răng có nhiệm vụ duy trì sự sống của răng, cụ thể là sự sống của nguyên bào ngà và tạo ngà thứ cấp, nhận cảm giác của răng.
Trong tủy răng có chứa nhiều mạch máu, mạch bạch huyết và đầu tận cùng của thần kinh [15]. Xương răng Là tổ chức canxi hoá bao phủ vùng ngà chân răng bắt đầu từ cổ răng, cấu trúc xương răng được chia làm hai loại. - Xương răng tiên phát: Ở lớp ngà vùng cổ răng và là loại xương răng không 5 có tế bào [15]. - Xương răng thứ phát: Có tế bào tạo xương răng bao phủ vùng ngà 2/3 dưới chân răng và cuống răng.
Độ dày của xương thay đổi theo vị trí và tuổi, mỏng ở vùng cổ răng và dày hơn ở vùng cuống răng [15]. Chức năng của răng Chức năng chính của răng là ăn nhai. Quá trình nhai là một quá trình phức tạp, trong quá trình đó, các răng khác nhau có tác dụng khác nhau. Răng cửa dùng để cắt thức ăn, răng nanh có chức năng chủ yếu là xé thức ăn, răng hàm có tác dụng nghiền nát thức ăn [8], [16].
Chức năng phát âm: Răng có liên quan mật thiết đến ngôn ngữ và phát âm. Hơn nữa, răng còn có ảnh huởng quan trọng đến ngoại hình của mỗi người [16]. Căn nguyên bệnh sâu răng 1. Nguyên nhân và những hiểu biết về sâu răng Sâu răng là một quá trình bệnh lý xuất hiện sau khi răng đã mọc, đặc trưng bởi sự khử khoáng làm tiêu dần các chất vô cơ, hữu cơ ở men răng, ngà răng tạo thành lỗ sâu [11], [16].
Trước năm 1970, người ta cho rằng bệnh căn của sâu răng là do nhiều nguyên nhân với sự tác động của 3 yếu tố. Vi khuẩn trong miệng (chủ yếu là Streptococcus mutans) lên men các chất bột và đường còn dính lại răng tạo thành acid. Acid này sẽ phá hủy tổ chức cứng của răng tạo thành lỗ sâu. Sự phối hợp của các yếu tố này để gây sâu răng được thể hiện bằng sơ đồ Keyes[16].
Thức ăn Vi khuẩn Men răng Sơ đồ 1: Keyes [16] 6 Với sơ đồ Keyes, người ta chú ý nhiều đến chất đường và vi khuẩn Streptococcus mutans. Do đó, việc dự phòng cũng chú ý quan tâm đến chế độ ăn hạn chế đường và vệ sinh răng miệng. Nhưng khi áp dụng vào thực tế phòng bệnh sâu răng, người ta thấy kết quả đạt được không cao, tỷ lệ sâu răng giảm xuống không đáng kể [11], [16]. Sau năm 1975, người ta đã làm sáng tỏ hơn căn nguyên gây bệnh sâu răng và đưa ra sơ đồ White thay thế một vòng tròn trong sơ đồ Keyes [16].
- Chất đường được thay thế bằng chất nền [16]. - Nhấn mạnh vai trò của nước bọt và PH của dòng chảy môi trường xung quanh răng [16]. - Người ta cũng làm sáng tỏ tác dụng của fluor nó làm cho tổ chức của răng cứng chắc hơn chống được sự phân huỷ của acid tạo thành tổn thương sâu răng[16]. Dòng chảy PH quanh răng nước bọt Nước bọt Vi khuẩn Chất nền Men răng Sơ đồ 2: White [16] 7 Ta có thể tóm lược cơ chế sinh bệnh học của sâu răng được thể hiện bằng hai quá trình tái khoáng và huỷ khoáng.
Mỗi quá trình đều có một số yếu tố thúc đẩy, nếu quá trình huỷ khoáng lớn hơn quá trình tái khoáng thì sẽ dẫn đến sâu răng [7]. Sâu răng = Hủy khoáng > Tái khoáng Các yếu tố gây mất ổn định làm sâu răng: +Mảng bám vi khuẩn +Chế độ ăn đường nhiều lần +Thiếu nước bọt hay nước bọt acid Các yếu tố bảo vệ: +Acid từ dạ dày tràn lên miệng +Nước bọt +PH< 5 +Khả năng kháng acid của men +F- có ở bề mặt men răng +Trám bít hố rãnh +Độ Ca++, NPO4- quanh răng +PH > 5,5 Sơ đồ 3: tóm tắt cơ chế sâu răng [7] 1. Các biện pháp phòng chống sâu răng Năm 2003, WHO đã đưa ra các biện pháp đảm bảo nâng cao chất lượng CSSKRM, trong đó nhấn mạnh đến một số biện pháp sau [32], [34]: - Chế độ ăn đảm bảo sức khỏe, giảm việc tiêu thụ đường, nâng cao việc tiêu thụ hoa quả và rau xanh. - Phòng chống các bệnh răng miệng liên quan đến việc hút thuốc lá.
- Hỗ trợ và cung cấp nước sạch đảm bảo vệ sinh cá nhân trong việc chăm sóc răng miệng. - Xây dựng chương trình mục tiêu quốc gia về việc đưa Fluor vào nước uống và sử dụng kem chải răng có Fluor. - Nâng cao công tác y tế trường học và chăm sóc sức khỏe cho người già. - Phát triển hệ thống cung cấp thông tin để quản lý nguy cơ và làm căn cứ 8 cho các hoạt động can thiệp về chăm sóc răng miệng.
* Phòng bệnh răng miệng ở Việt Nam [4], [16] - Fluor hóa nước uống: Cho thêm Fluor vào nước máy với tỷ lệ 1,2 ppm. - Khuyến khích sử dụng kem đánh răng có Fluor. Ăn đường ít nhất trong ngày và chải răng ngay sau ăn. Sâu răng không liên quan với lượng đường ăn vào mà do đường bám vào răng (không ăn kẹo dính, uống nước ngọt nhiều lần).
- Thực hiện công tác nha học đường (NHĐ). + Giáo dục vệ sinh răng miệng (dạy chải răng, ăn uống.) + Tổ chức súc miệng bằng nước pha Fluor (0.2g/L Fluorid) súc miệng tuần 2 lần, nhổ đi. + Khám phát hiện sớm sâu răng để trám + Trám bít hố rãnh để phòng sâu răng. Tình hình bệnh sâu răng trên thế giới và Việt Nam: 1.
Tình hình sâu răng và một số yếu tố liên quan trên thế giới Bệnh sâu răng và bệnh nha chu là bệnh phổ biến nhất trong các bệnh răng miệng. Sâu răng hiện nay vẫn còn là một vấn đề sức khỏe ở các nước công nghiệp vì nó ảnh hưởng tới 60-90% trẻ em trong độ tuổi đi học và đa số là các thanh thiếu niên. WHO đã xây dựng hệ thống giám sát bệnh răng miệng trên toàn thế giới, đặt biệt quan tâm đến bệnh sâu răng ở trẻ em [42], [43] Sau năm 1975, căn nguyên bệnh sâu răng được làm sáng tỏ hơn. Người ta cũng thấy rõ hơn tác dụng của fluor khi gặp Apatit thường của răng kết hợp thành fluorid apatit rắn chắc chống được sự phân hủy tạo thương tổn sâu răng.
Do đó, ở những nước phát triển Nhà nước coi chương trình fluor hóa nước uống, thuốc chải răng và giáo dục nha khoa là quốc sách nên bệnh sâu răng giảm mạnh. Ngược lại, những nước kém phát triển không được fluor hóa nước uống, thiếu sự giáo dục nha khoa, chế độ ăn đường không đúng nên sâu răng tăng [42], [43] Tại hội nghị Alma Ata (1978), WHO đã công bố có hơn 90% dân số thế giới mắc bệnh sâu răng và đã phát động chương trình hành động vì sức khỏe răng miệng cho con người đến năm 2000. Đồng thời, tổ chức y tế thế giới có chương trình giúp đỡ cho tất cả các nước trên thế giới triển khai chương trình này. Qua hai thập kỷ, 9 chương trình này đã phát huy được hiệu quả to lớn ở nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam.
Song việc triển khai chương trình phòng bệnh răng miệng phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế - xã hội và khả năng của mỗi nước [39]. Ở các nước phát triển: Từ những năm 1940 đến 1960, tình hình sâu răng rất nghiêm trọng, trung bình mỗi trẻ em 12 tuổi có từ 8-10 răng sâu hoặc răng đã bị mất do sâu. Chỉ số SMT của Na Uy tới mức 12,0 năm 1940, những năm 1980, chỉ số SMT ở tuổi 12 tại các nước này đã giảm xuống mức từ 2,0 - 4,0. Tới năm 1993, chỉ số SMT tuổi 12 ở hầu hết các nước công nghiệp hóa đã giảm xuống mức thấp từ 1,2 - 2,6.
Nhìn chung từ cuối những năm 1970 tới nay, tình hình sâu răng tại các nước phát triển có xu hướng giảm dần, chỉ số SMT tuổi 12 tại hầu hết các nước ở mức thấp và rất thấp. Điều này có được là do các nước phát triển đã áp dụng triệt để các biện pháp phòng bệnh. Nghiên cứu của Pieper tại Đức cho thấy, chỉ số SMT giảm từ 2,44 (năm 1994-1995) xuống còn 1,81 vào năm 1997 và 1,24 năm 2000 [36]. Đến năm 2006 nghiên cứu của Shulter chỉ ra sâu răng ở Đức tiếp tục giảm, chỉ số SMT giảm xuống ở mức 0,98 [34].
Ở các nước đang phát triển (trong đó có nhiều nước trong khu vực) còn cao và có chiều hướng tăng lên. Trừ một số nước đang phát triển như Hong Kong (SMT: 0,8), Singapore (SMT: 1,0), Malaysia (SMT: 1,6), thì tình trạng sâu răng và chỉ số SMT ở trẻ em của các nước đang phát triển còn lại vẫn còn cao. Chỉ số SMT ở một số nước điển hình như Iran: 2,4 (1974) lên 4,9 (1976); Morocco: 2,6 (1960) lên 4,5 (1980). Các nước như Lào, Campuchia, Bruney, Philippines chỉ số SMT ở tuổi 12 từ 2,4 đến 5,5 năm 1994 [18], [46].
Rao và cộng sự nghiên cứu về bệnh sâu răng trên trẻ em đô thị, nông thôn và dân tộc tai India năm 1993, cho biết học sinh nội thành (22,8%) có tỷ lệ sâu răng cao hơn ngoại thành (15%), học sinh dân tộc ít người có chất lượng răng tốt hơn học sinh không phải dân tộc ít người [45]. Nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến bệnh sâu răng.