TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ KHOA Y TẾ CÔNG CỘNG KẾ HOẠCH CAN THIỆP SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG TÌNH HÌNH TĂNG HUYẾT ÁP, CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ TIM MẠCH VÀ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ DÙNG THUỐC Ở NGƯỜI TỪ 18 TUỔI TRỞ LÊN TẠI XÃ TÂN THỚI HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ, NĂM 2021 Giảng viên hướng dẫn: PGs. Phạm Thị Tâm Nhóm 7– Y HỌC DỰ PHÒNG K42 CẦN THƠ – 2021 TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ KHOA Y TẾ CÔNG CỘNG KẾ HOẠCH CAN THIỆP SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG TÌNH HÌNH TĂNG HUYẾT ÁP, CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ TIM MẠCH VÀ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ DÙNG THUỐC Ở NGƯỜI TỪ 18 TUỔI TRỞ LÊN TẠI XÃ TÂN THỚI, HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ, NĂM 2021 Giảng viên hướng dẫn: PGs. Phạm Thị Tâm Nhóm 7 – Y HỌC DỰ PHÒNG K42 CẦN THƠ – 2021 NHÓM 7 Đàm Yến Nhi 1653040107 Kiên Thị Thanh Mỹ 1653040025 Đinh Thị Hoàng Anh 1653040109 Nguyễn Huyền Trang 1653040076 Huỳnh Anh Tuân 1653040051 Lê Ngọc Ngân 1653040086 Lâm Nhật Minh 1653040098 Dương Bé Nhi 1653040033 Nguyễn Thị Ngọc Diễm 1653040110 Lê Ngọc Huỳnh 1653040082 MỤC LỤC I – PHÂN TÍCH VẤN ĐỀ 5 1.1 Phân tích tình hình 5 1.2 Mô hình nguyên nhân 9 II - MỤC TIÊU, CHIẾN LƯỢC VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG 10 2.2 Chiến lược và phân tích chiến lược 11 2.3 Các hoạt động 13 III - KẾ HOẠCH THỜI GIAN HOẠT ĐỘNG 15 3.1 Kế hoạch thời gian hoạt động 15 3.2 Nội dung hoạt động và kết quả đầu ra mong đợi 17 IV - KẾ HOẠCH THEO DÕI VÀ ĐÁNH GIÁ 28 4.1 Kế hoạch theo dõi, đánh giá tiến độ 28 4.2 Đánh giá kết quả can thiệp 31 4.3 Đánh giá dài hạn 32 4.4 Đánh giá với sự tham gia của cộng đồng 32 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1 I – PHÂN TÍCH VẤN ĐỀ 1.1 Phân tích tình hình 1.1 Tình hình THA trên thế giới: Theo số liệu thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, Tăng huyết áp (THA) ảnh hưởng đến sức khỏe của hơn 1 tỷ người trên toàn thế giới và là yếu tố nguy cơ tim mạch quan trọng nhất liên quan đến bệnh mạch vành, suy tim, bệnh mạch máu não và bệnh thận mạn tính. Năm 2005, trong số 17,5 triệu người tử vong do các bệnh tim mạch thì tăng huyết áp là nguyên nhân trực tiếp gây tử vong của 7,1 triệu người.
Tăng huyết áp là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tỷ lệ tử vong và tỷ lệ mắc bệnh toàn cầu (12,7%), cao hơn các nguyên nhân khác như sử dụng thuốc lá (8,7%) hay tăng đường máu (5,8%). Tần suất tăng huyết áp nói chung trên thế giới là khoảng 41% ở các nước phát triển và 32% ở các nước đang phát triển. Ở Mỹ, có khoảng 75 triệu người bị tăng huyết áp. Khoảng 81% trong số những người này biết rằng họ bị tăng huyết áp, chỉ 75% trong số họ đang được điều trị, và chỉ có 51% huyết áp được kiểm soát thích hợp.
Ở người trưởng thành, người da đen bị tăng huyết áp phổ biến hơn (41%) so với người da trắng (28%) hoặc so với người Mỹ gốc Mexico (28%), tỉ lệ mắc và tỉ lệ tử vong cũng cao hơn ở người da đen [1] [1] Bhatt DL, Kandzari DE, O'Neill WW, et al, for the SYMPLICITY HTN-3 Investigators: A controlled trial of renal denervation for resistant hypertension. Theo nghiên cứu tổng hợp mới nhất của nhóm nghiên cứu quốc tế về các yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm cho thấy tại thời điểm năm 2015 huyết áp tâm thu trung bình chuẩn hóa theo tuổi trên toàn cầu là 127,0 mmHg ở nam và 122,3 mmgHg ở nữ; huyết áp tâm trương trung bình chuẩn hóa theo tuổi là 78,7mmg ở nam và 76,7mmHg ở nữ. Tỷ lệ tăng huyết áp chuẩn hóa theo tuổi trên toàn cầu là 24,1% ở nam và 20,1% ở nữ vào năm 2015. Huyết áp tâm thu trung bình và huyết áp tâm trương trung bình giảm rõ rệt từ 1975 đến 2015 ở các nước thu nhập cao ở 2 phương Tây và Châu Á Thái Bình Dương, làm cho các nước này dịch chuyển từ các nước có huyết áp cao nhất trên thế giới năm 1975 xuống thấp nhất thế giới vào năm 2015.
Huyết áp trung bình cũng giảm ở phụ nữ ở các nước trung Âu và đông Âu, Mỹ la tinh và Caribe, và gần đây hơn, Trung Á, Trung Đông, và bắc Phi, nhưng các xu hướng ước tính ở các khu vực này có độ không chắc chắn lớn hơn ở các khu vực thu nhập cao. Ngược lại, huyết áp trung bình có thể tăng ở Đông Á và Đông Nam Á, Nam Á, và tiểu vùng Sahara châu Phi. Vào năm 2015, Trung và Đông Âu, tiểu vùng Sahara châu Phi và Nam Á có mức huyết áp cao nhất. Tỷ lệ tăng huyết áp giảm ở các nước thu nhập cao và một số nước thu nhập trung bình; còn lại ở các nước khác là không thay đổi.
Số lượng người trưởng thành có tăng huyết áp tăng từ 594 triệu người năm 1975 lên 1,13 tỷ người năm 2015, với sự gia tăng lớn ở các nước thu nhập thấp và trung bình. Tại Vương quốc Anh, Theo Mindell và William, thống kê bệnh tim mạch năm 2017 cho thấy tỷ lệ mắc THA trong dân số từ 16 tuổi trở lên là 31% ở nam và 27% ở nữ, không có sự thay đổi đáng kể tỷ lệ này tính từ năm 2003. Tỷ lệ THA thấp nhất thuộc nhóm 16-24 tuổi (nữ: 2% và nam: 8%) và cao nhất ở nhóm từ 75 tuổi trở lên (nữ: 78% và nam: 66%). Tỷ lệ những người bị THA không được điều trị đã giảm đáng kể so với năm 2003 (từ 20% xuống còn 16% ở nam giới và từ 16% xuống còn 11% ở nữ giới).
Tỷ lệ mắc THA ở người từ 16 tuổi trở lên tại các nước khác thuộc khối Liên hiệp Anh cũng có những con số tương tự. Theo thống kê tại Scotland, năm 2011, tỷ lệ THA ở nam giới là 33% và ở nữ giới là 32%. Ở Bắc Ailen năm 2011, tỷ lệ THA ở nam giới là 26% và ở nữ giới là 27%. Tại xứ Wale năm 2013, có 20% nam giới và 20% nữ giới được báo cáo là đang tham gia điều trị THA.
Tại khu vực Đông Nam Á, Garii ước tính có 7,9 triệu người tử vong do BKLN (tương đương 55% tổng số tử vong) năm 2018, trong đó có 34% tử vong trước 60 tuổi, chiếm 23% tử vong sớm toàn thế giới. Các bệnh tim mạch là nguyên nhân dẫn tới 25% tổng số tử vong ở khu vực này và một trong những YTNC của bệnh tim mạch là THA. Tỷ lệ THA chiếm khoảng 36,6% người trưởng thành trong khu vực và là nguyên nhân tử vong của 1,5 triệu người mỗi năm.2 Tình hình THA tại Việt Nam Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc THA đang gia tăng một cách nhanh chóng. Theo thống kê, năm 1960, tỷ lệ THA ở người trưởng thành phía bắc Việt Nam chỉ là 1% và hơn 30 năm sau (1992) theo điều tra trên toàn quốc của Viện Tim mạch thì tỷ lệ này đã 11,2%, tăng lên hơn 11 lần.
Theo kết quả điều tra năm 2008, tỷ lệ tăng huyết áp ở người độ tuổi 25-64 là 25,1%. Theo Tổng điều tra toàn quôc về yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm ở Việt Nam năm 2015, có 18,9% người trưởng thành trong độ tuổi 18-69 tuổi bị tăng huyết áp, trong đó có 23,1% nam giới và 14,9% nữ giới. Còn nếu xét trong độ tuổi 18-25 tuổi thì tỷ lệ tăng huyết áp tăng từ 15,3% năm 2010 lên 20,3% năm 2015. Như vậy là cứ 5 người trưởng thành 25-64 tuổi thì có 1 người bị tăng huyết áp.
Theo thống kê của Đặng Văn Chung năm 1960, tỷ lệ THA ở người lớn phía Bắc Việt Nam chỉ là 1% [16] và hơn 30 năm sau (1992) theo điều tra trên toàn quốc của Trần Đỗ Trinh và cộng sự thì tỷ lệ này đã 11,7% [37], tăng lên hơn 11 lần. Và mười năm sau, theo điều tra dịch tễ học THA và các yếu tố nguy cơ tại 4 tỉnh phía Bắc Việt Nam (2001 - 2002) trên 5012 người trưởng thành ≥ 25 tuổi thì tần suất THA đã tăng đến 16,3%.trong đó THA độ I, độ II, độ III lần lượt là 10,2%, 4,2% và 1,9%. Tỷ lệ THA ở vùng thành thị là 22,7% cao hơn vùng nông thôn là 12,3% [38]. Nghiên cứu của tác giả Phạm Gia Khải và Cộng sự (2003) so sánh tỷ lệ mắc THA ở người dân từ 25 tuổi trở lên giữa vùng thành thị và nông thôn các tỉnh phía Bắc Việt Nam, cho thấy tỷ lệ mắc bệnh THA ở thành thị nhiều hơn nông thôn, ở vùng thành thị tỷ lệ THA là 22,7%, còn nông thôn là 12,3% [38].
Nghiên cứu của Lê Anh Tuấn (2003) ở nội thành và ngoại thành Hà Nội là 16,17% [39]. Nghiên cứu của Cao Thị Yến Thanh, Nguyễn Công Khẩn, Đăng Tuấn Đạt (2006) ở người từ 25 tuổi trở lên tại tỉnh Đắc Lắc là 17,5% [40]. Cũng theo nghiên cứu của Phạm Hùng Lực, Lê Thế Thự (2002) với đối tượng từ 15 đến 75 tuổi ở đồng bằng sông Cửu Long cho thấy tỷ lệ THA là 14,9% [41], nghiên 4 cứu ở người dân tộc thiểu số sống ở thị xã Kon Tum và khu vực xung quanh thị xã của Đào Duy An (2003) là 12,54% [42] và nghiên cứu của Lại Đức Trường (2011) ở Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp ở người trưởng thành từ 25 - 64 tuổi là 17,8% [43] Năm 2008, kết quả điều tra của Viện Tim mạch Quốc gia trên 8 tỉnh ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam cho thấy tỷ lệ THA ở người trưởng thành từ 25 tuổi trở lên là 25,1% (trong số đó, tỷ lệ người được điều trị THA vẫn thấp, chỉ chiếm 34,2% và tỷ lệ kiểm soát tốt chỉ đạt 11,0%) [45]. Theo kết quả của Niên giám thống kê y tế qua các năm từ 2000 - 2013 [46], số mắc THA trên 100000 dân tăng lên rõ rệt.
Đặc biệt, năm 2010 có số mắc THA cao nhất (515,5/100000 dân). Cũng theo kết quả thống kê y tế (từ năm 2000 - 2013), THA nằm trong danh sách 10 bệnh mắc cao nhất qua các năm theo các vùng địa lý và với số mắc như sau: 5 Bảng 1. Phân bố tăng huyết áp trên 100.