Chương 1 TỔNG QUAN 1. Đặc điểm của bệnh tăng huyết áp * Khái niệm Huyết áp (HA): là áp lực dòng máu ở trong lòng động mạch tác động lên thành mạch. Huyết áp được tạo ra bởi lực co bóp và tần số của tim; độ quánh của máu; thể tích lưu thông máu; bản thân thành mạch. Chỉ số huyết áp quan trọng là huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương [1]: - Huyết áp tâm thu (HATT) hay huyết áp tối đa: là huyết áp cao nhất đo được ở thời điểm tim co bóp.
- Huyết áp tâm trương (HATTr) hay huyết áp tối thiểu: là huyết áp thấp nhất đo được ở thời điểm tim giãn ra. Tăng huyết áp được định nghĩa là khi huyết áp thường xuyên cao hơn mức bình thường. Theo quy định của Bộ Y tế tại Quyết định số 3192/QĐ-BYT ngày 31 tháng 08 năm 2010 của Bộ Y tế, THA khi huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg, khi trị số huyết áp này được nhân viên y tế đo đúng quy trình [1]. * Chẩn đoán xác định THA: Dựa vào trị số huyết áp đo được sau khi đo huyết áp đúng quy trình.
Ngưỡng chẩn đoán THA thay đổi tùy theo từng cách đo huyết áp [1]: Bảng 1. Các ngưỡng chẩn đoán tăng huyết áp theo từng cách đo TT Cách đo HA HATT HATTr 1 Cán bộ y tế đo theo đúng quy trình 140 mmHg 90 mmHg 2 Đo bằng máy đo HA tự động 24 giờ 130 mmHg và/hoặc 80 mmHg 3 Tự đo tại nhà (tự đo nhiều lần) 135 mmHg 85 mmHg * Nguyên nhân và một số yếu tố nguy cơ của tăng huyết áp Phần lớn THA ở người trưởng thành là không rõ nguyên nhân (THA nguyên phát), chỉ có khoảng 10% các trường hợp là có nguyên nhân (bệnh thận cấp hoặc 5 mạn tính, hẹp động mạch thận, u tủy thượng thận, bệnh lý tuyến giáp/cận giáp, tuyến yên, hẹp eo động mạch chủ, nhiễm độc thai nghén,. Trong lúc đi tìm nguyên nhân gây bệnh, nhiều nhà nghiên cứu đã cho thấy có một số yếu tố nguy cơ liên quan mật thiết đến bệnh này trong đó có các yếu tố không thể thay thế như tiền sử gia đình, tuổi cao, chủng tộc. Các yếu tố liên quan đến lối sống như uống nhiều rượu bia, hút thuốc, sử dụng nhiều muối, thường xuyên bị stress… là những yếu tố có thể thay đổi được [10]: - Tuổi cao: tuổi càng cao thì tỷ lệ THA càng nhiều, do thành động mạch bị lão hóa và xơ vữa làm giảm tính đàn hồi và trở lên cứng hơn vì thế làm cho huyết áp tâm thu tăng cao hơn còn gọi là THA tâm thu đơn thuần [10].
- Tiền sử gia đình có người THA: theo thống kê của nhiều tác giả cho thấy THA có thể có yếu tố di truyền. Trong gia đình nếu ông, bà, cha, mẹ bị bệnh THA thì con cái có nguy cơ mắc bệnh THA nhiều hơn [10]. - Ăn mặn: nhiều nghiên cứu cho thấy chế độ ăn nhiêu muối thì tần suất mắc bệnh THA tăng cao rõ rệt. Nhiều bệnh nhân THA ở mức độ nhẹ chỉ cần ăn chế độ giảm muối là có thể điều trị được bệnh.
Chế độ ăn giảm muối là một biện pháp quan trọng để điều trị cũng như phòng bệnh THA, nếu ăn < 6 gam hay 1 thìa ca phê muối mỗi ngày sẽ giảm huyết áp trung bình từ 4-8 mmHg [4]. - Hút thuốc lá, thuốc lào: trong thuốc là, thuốc lào có nhiều chất kích thích, đặc biệt có chất nicotin kích thích hệ thần kinh giao cảm làm co mạch và gây THA. Nhiều nghiên cứu cho thấy hút một điếu thuốc lá có thể làm tăng HATT lên 11 mmHg và HATTr lên 9 mmHg và kéo dài trong 20-30 phút [10]. - Uống nhiều rượu, bia: uống rượu, bia quá mức là yếu tố nguy cơ gây bệnh tim mạch nói chung và THA nói riêng.
Ngoài ra uống rượu, bia còn làm mất tác dụng của thuốc điều trị THA và còn gây bệnh xơ gan và các tổn thương thần kinh nặng nề khác, từ đó gián tiếp làm THA. Để phòng bệnh THA, hàng ngày mỗi người uống tối đa khoảng 30 ml rượu mạnh hoặc 50 ml rượu vang hoặc 330 ml bia [4], [10]. - Thừa cân, béo phì: cân nặng có quan hệ khá tương đồng với THA, người béo phì hay người tăng cân theo tuổi cũng làm tăng nhanh huyết áp. Vì vậy, chế độ 6 làm việc, ăn uống hợp lý và luyện tập thể dục thể thao thường xuyên sẽ tránh dư thừa trọng lượng cơ thể đồng thời cũng là biện pháp quan trọng để giảm nguy cơ gây THA, nhất là ở những người cao tuổi [10].
- Ít vận động thể lực: ít vận động thể lực cũng được coi là nguy cơ của bệnh THA. Việc vận động hàng ngày đều đặn từ 30-60 phút mang lại lợi ích rõ rệt trong giảm nguy cơ bệnh tim mạch nói chung và bệnh THA nói riêng [3], [1]. - Mắc bệnh đái tháo đường (ĐTĐ): người mắc bệnh ĐTĐ có tỷ lệ bệnh THA cao gấp đôi so với người không bị ĐTĐ. Khi có cả THA và ĐTĐ sẽ làm tăng gấp đôi biến chứng mạch máu lớn và nhỏ, làm tăng gấp đôi nguy cơ tử vong so với bệnh nhân THA đơn thuần.
Vì vậy, việc điều trị tốt ĐTĐ sẽ góp phần khống chế được được bệnh THA kèm theo [10]. - Có nhiều stress (căng thẳng, lo âu quá mức): nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng căng thẳng thần kinh, stress làm tăng nhịp tim và làm động mạch co thắt dẫn đến tăng huyết áp. Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện cho minh tự lập, kiên nhẫn và luôn biết làm chủ bản thân trước mọi vấn đề xảy ra trong cuộc sống [10]. Tình hình mắc tăng huyết áp * Trên thế giới: Theo số liệu thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG), THA ảnh hưởng đến sức khỏe của hơn 1 tỷ người trên toàn thế giới và là yếu tố nguy cơ tim mạch quan trọng nhất liên quan đến bệnh mạch vành, suy tim, bệnh mạch máu não và bệnh thận mạn tính.
Năm 2005, trong số 17,5 triệu người tử vong do các bệnh tim mạch thì THA là nguyên nhân trực tiếp gây tử vong của 7,1 triệu người [26]. THA là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tỷ lệ tử vong và tỷ lệ mắc bệnh toàn cầu (12,7%), cao hơn các nguyên nhân khác như sử dụng thuốc lá (8,7%) hay tăng đường máu (5,8%). Tần suất THA nói chung trên thế giới là khoảng 41% ở các nước phát triển và 32% ở các nước đang phát triển [25]. Trong báo cáo về sức khoẻ hàng năm của TCYTTG giới năm 2002 đã nhấn mạnh THA là “kẻ giết người số một”.
Thực vậy, vào năm 2008, người ta ước tính mỗi năm có khoảng 17,5 triệu người trên thế giới bị tử vong do bệnh lý tim mạch, trong đó có THA [24]. 7 Theo một điều tra tại Hoa Kỳ năm 2006 đã cho thấy có 56.561 người Mỹ bị tử vong vì THA trong năm này. Theo thống kê của Hội Tim Mạch Hoa Kỳ, khoảng 2/3 tất cả các ca đột quỵ và khoảng 1/2 số ca bệnh mạch vành có liên quan tới THA [16]. Còn theo thống kê của TCYTTG, đối với người bị THA, nguy cơ bị đột quỵ tăng gấp bốn lần; nguy cơ bị nhồi máu cơ tim tăng gấp hai lần nếu so với người không bị THA.
Nguy cơ tử vong sẽ tăng gấp đôi khi số huyết áp của chúng ta tăng mỗi 20mmHg đối với HATT và tăng 10mmHg đối với HATTr, THA cũng là bệnh nguy hiểm gây ra 7,5 triệu ca tử vong và 64 triệu người bị khuyết tật mỗi năm, con số này tương đương 13% tổng tử vong và chiếm 4,5% gánh nặng bệnh tật chung toàn cầu [17]. Tỷ lệ mắc THA ở một số quốc gia phát triển cũng rất cao, Tại Hoa Kỳ năm 2007 ước tính có khoảng 68 triệu người người trưởng thành mắc THA chiếm khoảng 31,3% [20], [19]. Trong năm 2010, Hoa Kỳ đã mất khoảng 93,5 tỉ đô cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe, thuốc men và chi phí người bệnh phải nghỉ việc do THA [18]. Theo điều tra sức khoẻ tim mạch Canada năm 1995 trên 23.129 đối tượng tuổi từ 18 - 74 của 20 tỉnh đã xác định tỷ lệ THA chung là 22% [19].
Còn tại Tây Ban Nha năm 1996, thông báo của Hội THA của quốc gia này cho biết tỷ lệ THA của nước này là 30% ở người trưởng thành, tỷ lệ nhận biết và được điều trị ở thập kỷ 80 là 50%, nhưng sau đó nhờ hoạt động tuyên truyền giáo dục sức khoẻ và quan tâm tích cực của y tế, kết quả tăng thêm 20%. Một nghiên cứu tại nước Đức vào cuối những năm 80 của thế kỷ trước đã cho thấy những nguy cơ gây tử vong trong một năm do THA là 1/50 [6]. Ở châu Á, trong một nghiên cứu về tỷ lệ hiện mắc THA và kiểm soát điều trị THA của người cao tuổi ở Bangladesh, Ấn Độ năm 2001, cho thấy tỷ lệ mắc THA của người cao tuổi là 65%, trong đó có 45% đã được phát hiện và điều trị, 40% điều trị bằng thuốc và chỉ có 10% là điều trị có hiệu quả [23], số người mắc THA tại Ấn Độ cũng tiếp tục tăng, dự đoán đến năm 2025 sẽ có khoảng 213 triệu người mắc. * Tại Việt Nam: 8 Tại Việt Nam, tần suất THA ở người lớn ngày càng gia tăng.
Trong những năm 1960 tỷ lệ THA là khoảng 1%, năm 1992 là 11,2%, năm 2001 là 16,3% và năm 2005 là 18,3% [7], [15]. Theo điều tra của Viện Tim mạch tại 4 tỉnh phía Bắc năm 2003 cho thấy THA là nguyên nhân hàng đầu (10%) gây suy tim tại cộng đồng ở người lớn, 46% bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp được điều trị tại Viện Tim mạch (2005) có liên quan với THA và hơn 1/3 bệnh nhân tai biến mạch máu não điều trị tại Khoa Thần kinh, bệnh viện Bạch Mai (2003) có nguyên nhân là THA [8]. Theo một điều tra gần đây nhất (2008) của Viện Tim mạch Việt Nam tiến hành ở người lớn (≥ 25 tuổi) tại 8 tỉnh và thành phố của nước ta thì thấy tỷ lệ THA đã tăng lên đến 25,1% nghĩa là cứ 4 người lớn ở nước ta thì có 1 người bị THA. Với dân số hiện nay của Việt Nam là khoảng 88 triệu dân thì ước tính sẽ có khoảng 11 triệu người bị THA.
Trong số những người bị THA thì có tới 52% là không biết mình có bị THA; 30% của những người đã biết bị THA nhưng vẫn không có một biện pháp điều trị nào; và 64% những người đó đã được điều trị nhưng vẫn chưa đưa được huyết áp mục tiêu.