mở đầu cuộc thảo luận, bởi vì điều này có thể mang đến cảm nhận về một cái chết thực sự. Một số người sợ rằng sự trung thực về tiên lượng sẽ gây đau khổ quá mức hay dập tắt hy vọng của BN. Mặc dù thận trọng trong thảo luận là cần thiết; một nghiên cứu định tính cho thấy BN có đa dạng các phản ứng, một mặt, muốn có hy vọng, mặt khác, muốn có một tiên lượng trung thực, phản hồi có thể là hy vọng cho điều khác ngoài điều trị khỏi bệnh. Một số mức độ của cảm xúc buồn bã có thể xảy ra, nhưng nó thường phù hợp với tình huống thực tế, và hầu hết BN chấp nhận lời đề nghị về ACP [12].
An tử An tử/ Cái chết êm ái – Euthanasia là một can thiệp có chủ ý trực tiếp bởi NVYT với biểu hiện rõ ràng của dự tính kết thúc một cuộc sống nhằm xoa dịu đau khổ không thể điều trị được. Có hai dạng là chủ ý và không chủ ý. An tử có chủ ý là khi một BN mắc một tình trạng đe dọa tính mạng, hoàn toàn tỉnh táo, đầy đủ năng lực tinh thần để ra quyết định, chủ động đưa yêu cầu được chết. An tử không chủ ý khi BN không thể đưa ra đồng thuận do mất năng lực nhận thức (hôn mê, trạng thái thực vật .) và thường là phán quyết từ tòa án.
An tử chủ động là việc có biện pháp can thiệp đặc hiệu để kết thúc cuộc sống còn an tử thụ động là ngưng hay tạm dừng điều trị duy trì sự sống. Cách chia chủ động và thụ động vẫn còn nhiều tranh cãi. Hiện tại một số quốc gia có luật pháp cho phép hình thức này: Hà Lan, Canada, Colombia, Bỉ và Luxemburg [42]. Điều này chưa được luật pháp Việt Nam công nhận.
Nguyện vọng không hồi sức. 11 Nguyện vọng không hồi sức (Do not resuscitate order - DNR) là văn bản do BS thiết lập nhằm ghi nhận nguyện vọng của BN, lưu giữ trong hồ sơ bệnh án, với mục đích chỉ định rằng nhân viên y tế không nên tiến hành thủ thuật hồi sức tim phổi (CPR) khi BN trong tình trạng ngưng hô hấp hay tuần hoàn [32]. Phương tiện duy trì sự sống Phương tiện duy trì sự sống (Life – sustaining treatment) (PTDTSS) là các quy trình y khoa thay thế hay hỗ trợ một chức năng thiết yếu của cơ thể. Các điều trị duy trì sự sống bao gồm CPR – cardiopulmonary resuscitation (hồi sức tim phổi), thông khí nhân tạo, dinh dưỡng và bù dịch nhân tạo, điều trị thay thế thận bằng lọc máu và một số trị liệu khác [32].
Tự tử có sự hỗ trợ của thầy thuốc Tự tử có sự hỗ trợ của thầy thuốc – Physician Assisted Dying là khi BS kê đơn cho BN một liều thuốc gây tử vong để BN tự sử dụng với mục tiêu rõ ràng là giúp BN thực hiện hành vi tự tử. Điều này hoàn toàn khác về mặt luật pháp và y đức với hiện tượng hiệu ứng kép là khi một điều trị mang tính tốt lại không chủ ý lấy đi tính mạng của BN. Hiện tại hình thức này được luật pháp cho phép ở bang Oregon, Washington, Vermont và California tại Hoa Kì [18]. Tổng quan chăm sóc cuối đời Chăm sóc cuối đời (CSCĐ) là những chăm sóc nhằm giúp đỡ các cá nhân với bệnh lý không chữa được đang tiến triển hay bệnh ở giai đoạn cuối để họ sống càng thoải mái càng tốt cho đến khi họ qua đời.
Để đạt được mục tiêu đó, nhu cầu hỗ trợ và giảm nhẹ của của BN và Gia đình cần được xác định trong giai đoạn cuối cuộc đời và giai đoạn sau khi BN qua đời. Chăm sóc bao gồm quản lí đau và các triệu chứng khác, cung cấp hỗ trợ về thực hành tâm lý, tinh thần và xã hội. Nội dung chăm sóc cuối đời. 12 Thảo luận nhu cầu cá nhân và mong muốn của BN để nhận được sự hỗ trợ của chuyên gia.
BN được tham gia và lập kế hoạch chăm sóc phù hợp với thứ tự ưu tiên của BN. Mọi mong muốn và sự lựa chọn của BN sẽ được tham khảo để sử dụng trong việc ra quyết định. Mọi NVYT, nhân viên công tác xã hội đều được đào tạo giao tiếp CSCĐ, kĩ năng đánh giá nhu cầu của BN và người chăm sóc, kĩ năng giúp BN đưa ra quyết định nhằm đảm bảo dịch vụ cung cấp sẽ thỏa mãn cả nhu cầu và mong muốn của BN. Phối hợp chăm sóc và hỗ trợ giữa các đơn vị y tế đảm bảo nhu cầu của BN được đáp ứng.
BN và người chăm sóc được tiếp cận nhanh chóng với lời khuyên và đánh giá lâm sàng bởi các chuyên gia bất kể họ ở đâu. Chăm sóc chất lượng cao và trợ và trợ giúp trong những ngày cuối đời BN, các cơ sở y tế cung cấp hỗ trợ cho Gia đình và người chăm sóc có mong muốn ở cùng BN tại bệnh viện. Các dịch vụ y tế chăm sóc và tôn trọng phẩm giá BN trước và cả sau khi BN tử vong. Hỗ trợ và cho lời khuyên phù hợp cho Gia đình chăm sóc BN ở mỗi giai đoạn bệnh.
Cơ sở chăm sóc được bố trí và phối hợp tốt đảm bảo BN tiếp cận được chăm sóc cần thiết khi BN cần bất kể trong tình trạng hay hoàn cảnh nào, lựa chọn của BN được tôn trọng và sử dụng để đưa ra quyết định cho chính họ. Quy trình chăm sóc cuối đời Bước 1: Thảo luận khi cuộc sống gần đi đến hồi kết. Giao tiếp cởi mở và chân thật. Bước 2: Đánh giá, lên kế hoạch chăm sóc và tái đánh giá: Thống nhất kế hoạch chăm sóc, định kì đánh giá và cập nhật kế hoạch phù hợp nhu cầu BN.
13 yếu tố tạo thuận lợi cho việc thảo luận. Xác định các nhu cầu của người chăm sóc cần được giúp đỡ. Bước 3: Điều phối việc chăm sóc cá nhân hóa: Điều phối theo chiến lược việc chăm sóc cho BN. Thành lập các dịch vụ phản ứng nhanh.
Bước 4: Cung cấp dịch vụ chất lượng cao ở các cơ sở điều trị khác nhau: Đảm bảo chất lượng cao trong chăm sóc ở mọi cơ sở điều trị như: xe cứu thương, BV, nhà cận tử, nhà dưỡng lão… Bước 5: Chăm sóc cho những ngày cuối đời: Nhận biết được giai đoạn hấp hối. Bước 6: Chăm sóc sau khi BN qua đời. Xác định là CSCĐ không chấm dứt tại thời điểm BN qua đời. Hỗ trợ các thủ tục khai tử.
Hỗ trợ Gia đình và người chăm sóc về mặt tâm lý đau buồn, mất mát hoặc giới thiệu đến các chuyên gia tâm lý [27]. Các thang điểm đánh giá chức năng và tình trạng bệnh lý ở người cao tuổi Thang điểm đánh giá chức năng ECOG Mức độ hoạt động ECOG: biến định danh gồm 6 giá trị từ 0 đến 5 đánh giá bởi người phỏng vấn. ● 0: Không giới hạn vận động ● 1: Giới hạn hoạt động thể chất gắng sức nhưng BN vẫn đi lại được và có thể tiến hành công việc tĩnh lại ● 2: Đi lại được và có thể tự chăm sóc bản thân nhưng không thể thực hiện bất kì công việc nào khác. Đi lại được trong hơn 50% thời gian tỉnh táo.
● 3: Có thể chăm sóc bản thân nhưng giới hạn, giới hạn ở ghế hay giường hơn 50% thời gian tỉnh táo ● 4: Hoàn toàn bị giới hạn, không thể tự chăm sóc bản thân. Hoàn toàn giới hạn tại giường hay ghế. 14 ● 5: Tử vong Một thang điểm khác cũng được dùng để đánh giá mức độ chức năng như thang đánh giá chức năng hoạt động Karnofsky Performance Status (KPS). Tuy nhiên việc đánh giá KPS còn mang tính chủ quan phụ thuộc vào từng bác sĩ điều trị, hơn nữa KPS không phản ánh tình trạng thực sự của BN NCT.
Còn thang điểm đánh giá chức năng ECOG tổng quát hơn, đơn giản hơn, được sử dụng nhiều ở BN ung thư và trong đánh giá lão khoa toàn diện, giúp tiên lượng và cân nhắc điều trị phù hợp cho BN [34]. Hoạt động sống cơ bản hằng ngày -ADL Độc lập về hoạt động cơ bản hằng ngày- Activities of Daily Living (ADL) gồm 6 tiêu chuẩn đánh giá khả năng độc lập trong hoạt động hằng ngày của NCT theo thang điểm Katz. Biến định danh gồm 6 giá trị theo đánh giá của người phỏng vấn: tắm, mặc quần áo, đi vệ sinh, di chuyển, tiêu tiển tự chủ, ăn uống. Sau đó biến danh định là điểm theo thang Katz sẽ được tính toán.
Điểm số 5-6 gợi ý chức năng độc lập về ADL bảo toàn, 3-4 gợi ý suy giảm nhẹ sự độc lập về ADL và 0-2 là suy giảm nặng sự độc lập ADL. ● Tắm: Độc lập (1 điểm): Tự tắm một mình hay chỉ cần trợ giúp tắm một phần cơ thể như lưng, vùng cơ quan sinh dục hay chỉ bị tật. Mất độc lập (0 điểm): Cần trợ giúp di chuyển sang bệ xí, lau chùi, dùng bô dạng ghế ngồi hay tấm trải giường. ● Đi vệ sinh: Độc lập (1 điểm): Đi đến nhà vệ sinh, lên và xuống được từ bệ xí, sắp xếp quần áo, vệ sinh vùng cơ quan sinh dục mà không cần sự giúp đỡ.
15 Mất độc lập (0 điểm): Cần trợ giúp di chuyển sang bệ xí, lau chùi, bô dạng ghế ngồi hay tấm trải giường. ● Mặc quần áo: Độc lập (1 điểm): Lấy được quần áo từ tủ và mặc được quần áo, kể cae áo khoát, gải được nút hay thắt lưng. Có thể cần trợ giúp để chỉnh giày. Mất độc lập (0 điểm): Cần trợ giúp một phần hay toàn bộ việc mặc quần áo.
● Di chuyển: Độc lập (1 điểm): Di chuyển lên xuống giường hay ghế không cần sự trợ giúp. Trợ giúp bằng máy móc vẫn được chấp nhận Mất độc lập (0 điểm): Cần trợ giúp di chuyển lên xuống giường sang ghế hay cần người khác di chuyển hộ. ● Tiêu tiểu tự chủ Độc lập (1 điểm): tập kiểm soát hoàn toàn việc tiêu và tiểu. Mất độc lập (0 điểm): Mất tự chủ một phần hay toàn bộ hoạt động tiêu tiểu.
● Ăn Độc lập (1 điểm): tự lấy thức ăn từ tô hay đĩa vào miệng, không cần trợ giúp. Có thể nhờ người khác chuẩn bị thức ăn. Mất độc lập (0 điểm): Cần hỗ trợ một phần hay toàn bộ với hoạt động ăn uống hay cần nuôi ăn tĩnh mạch. Trong nhiều nghiên cứu, giảm mức độ độc lập về ADL đã được chứng minh có liên quan đến tăng tỉ lệ biến chứng, tỉ lệ tác dụng phụ và tăng tỉ lệ tử vong ở NCT.
16 Chỉ số bệnh đồng mắc Charlson Chỉ số bệnh đồng mắc Charlson – Charlson Comorbidity Index (CCI) được tính bằng cách thu thập tất cả các chẩn đoán bệnh lý của BN.