ĐẶT VẤN ĐỀ Thoát vị đĩa đệm vùng cột sống thắt lưng-cùng là bệnh lý hay gặp, nguyên nhân chủ yếu gây đau cột sống thắt lưng và dây thần kinh hông to. Thoát vị đĩa đệm là hậu quả của bệnh lý thoái hóa xương sụn cột sống, chấn thương hoặc không rõ nguyên nhân. Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng (TVĐĐCSTL) chiếm tỷ lệ 63-73% trong tổng số đau cột sống thắt lưng (CSTL). Có từ 80-85% trường hợp đau dây thần kinh tọa là do bệnh lý của TVĐĐCSTL [8].
Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng phần lớn xảy ra ở độ tuổi lao động làm ảnh hưởng đến khả năng lao động và chất lượng cuộc sống. Do đặc điểm sinh hoạt, nghề nghiệp, cường độ lao động thay đổi mà cột sống phải chịu sức nặng quá mức nhất thời, hoặc chịu sự đè ép kéo dài trong những tư thế không bình thường: gấp quá mức, ưỡn quá mức, xoắn vặn. kết hợp với quá trình thoái hóa của đĩa đệm dẫn tới đĩa đệm sẽ thóat ra ngoài vị trí gây ra bệnh lý thóat vị đĩa đệm. Thoát vị đĩa đệm có thể xảy ra ở bất kỳ vị trí nào của cột sống nhưng do đặc thù về cấu tạo giải phẫu, tải trọng và mức độ hoạt động của cột sống vùng thắt lưng-cùng mà ta nhận thấy thoát vị đĩa đệm hay xảy ra ở vùng này [20, 24].
Ở Mỹ, hàng năm có khoảng 1% dân số bị thoát vị đĩa đệm thắt lưng và trong đó có khoảng 10-12% phải phẫu thuật (Trích [26]). Ở Pháp, theo nghiên cứu của Gilbert Dechambenoit tỷ lệ bệnh khoảng 50-100/100.000 dân hàng năm (Trích [26]) Ở Việt Nam chưa có số liệu thống kê đầy đủ nhưng đã có nhiều công trình nghiên cứu về thoát vị đĩa đệm đã được các tác giả Nguyễn Thường Xuân, Phạm Gia Triệu, Trần Quang Vũ công bố từ 1958. Tiếp sau là các nghiên cứu về phương pháp chẩn đoán và điều trị thoát vị đĩa đệm của các tác giả: Lê Xuân Trung (1965), Trần Mạnh Trí - Vũ Hùng Liên (1992 -2006), Bùi Quang Tuyển (2007 – 2009). 2 Ngày nay nhờ có sự tiến bộ của y học, đặc biệt là các phương tiện chẩn đoán bệnh TVĐĐCSTL như: chụp cắt lớp vi tính (CLVT), chụp cộng hưởng từ (CHT), nhiều phương pháp điều trị được áp dụng, do đó thoát vị đĩa đệm ngày càng được chẩn đoán chính xác và điều trị hiệu quả.
Tùy theo giai đoạn của bệnh mà có chỉ định phương pháp điều trị khác nhau, trong đó có chỉ định phẫu thuật. Tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương (ĐKTW) Thái Nguyên vấn đề ứng dụng chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ đã giúp cho chẩn đoán chính xác thoát vị đĩa đệm. Việc điều trị phẫu thuật đã thu được những kết quả khả quan. Để đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật và góp phần nâng cao hiệu quả chẩn đoán hình ảnh, hiệu quả điều trị phẫu thuật bệnh lý thoát vị đĩa đệm vùng cột sống thắt lưng - cùng tại Bệnh viện ĐKTW Thái Nguyên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật thoát vị đĩa đệm vùng cột sống thắt lƣng - cùng tại Bệnh viện Đa khoa Trung ƣơng Thái Nguyên” nhằm mục tiêu sau: 1.
Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh thoát vị đĩa đệm vùng cột sống thắt lưng - cùng. Đánh giá kết quả phẫu thuật thóat vị đĩa đệm vùng cột sống thắt lưng - cùng. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Lịch sử nghiên cứu 1.
Trên thế giới Bệnh lý thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ) đã có từ rất lâu, từ thời Hy Lạp cổ đại người ta đã cho rằng đau thắt lưng là triệu trứng của bệnh, bệnh lý này chỉ được nghiên cứu và công bố từ cuối thế kỷ XIX [26]. Năm 1555, Andreas Vesalius đã mô tả giải phẫu đĩa đệm. Nghiên cứu của Virchow (1857) và Luschka (1858) đã nói đến sự gây đau khi đĩa đệm thoát ra phía sau. Năm 1919, Oppênheim và Kause lần đầu tiên mổ thành công 1 trường hợp TVĐĐ nhưng lại cho rằng tổ chức đĩa đệm là “u sụn”.
nêu lên hiện tượng TVĐĐ vào thân đốt sống và đưa ra thuật ngữ “thoát vị đĩa đệm” lần đầu tiên vào năm 1929 và được dùng cho đến ngày nay. đã tổng hợp đầy đủ các triệu chứng lâm sàng và giải phẫu bệnh và đưa ra các chỉ định phẫu thuật TVĐĐ. Bệnh cảnh TVĐĐ dần được làm sáng tỏ, những năm 40 của thế kỷ XX, Deseze L (Pháp) đã mô tả khá đầy đủ các triệu chứng của TVĐĐCSTL - cùng: dấu hiệu cột sống, dấu hiệu bấm chuông, dấu hiệu định khu theo rễ thần kinh…giúp chẩn đoán chính xác các tổn thương rễ thần kinh do TVĐĐ. Những thập niên tiếp theo của thế kỷ 20, nghiên cứu của các tác giả: Calliet.C (1999) tiếp tục khẳng định đau thắt lưng có chèn ép rễ thần kinh hầu hết là do TVĐĐ vùng thắt lưng.
Với sự tiến bộ vượt bậc của các phương tiện thăm khám chẩn đoán như Xquang, cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ nên việc xác định TVĐĐ vùng CSTL - cùng ngày càng chính xác và hiệu quả. 4 Bên cạnh những tiến bộ về chẩn đoán thì điều trị cũng không ngừng phát triển, đặc biệt là những kỹ thuật mới trong điều trị phẫu thuật TVĐĐ. Phẫu thuật TVĐĐ đã được tiến hành ở hầu hết các trung tâm phẫu thuật thần kinh, chấn thương chỉnh hình trên thế giới, với nhiều phương pháp phẫu thuật và kỹ thuật mổ, sử dụng nhiều phương tiện từ đơn giản đến hiện đại. Trong y văn có đề cập tới hai đường mổ chính là đường trước cột sống ngoài phúc mạc và đường mổ phía sau [26] Ngày nay chủ yếu áp dụng phương pháp phẫu thuật đường sau: cắt cung sau, cắt nửa cung sau, mở cửa sổ xương hoặc chỉ cắt dây chằng vàng để lấy thoát vị, bảo tồn dây chằng, giữ độ vững tối đa cho cột sống [26, 37, 45].
Một số phương pháp hiện đại đã được áp dụng như: phương pháp lấy đĩa đệm qua da bằng dụng cụ hút nhân nhầy của Onik G thông báo năm 1989 [51]. Phương pháp giảm áp đĩa đệm bằng laser của Choy năm 1986, Masashi và Kanayama năm 1998. Phương pháp cắt đĩa đệm vi phẫu đã được Kêvin Foley và Smith mô tả năm 1997. Năm 1999 Destandau J công bố kết quả lấy đĩa đệm qua nội soi đạt kết quả tốt [26, 44].
Tại Việt Nam Nguyễn Thường Xuân, Phạm Gia Triệu, Trần Quang Vỹ là những người đầu tiên đã thông báo phẫu thuật 20 trường hợp TVĐĐ vùng thắt lưng cùng vào năm 1958. Năm 1986 Hồ Hữu Lương nhận xét đặc điểm lâm sàng TVĐĐCSTL đối chiếu với kết quả chụp bao rễ thần kinh cho thấy sự phù hợp giữa triệu chứng lâm sàng với hình ảnh chụp bao rễ [23]. Năm 1995, Vũ Hùng Liên, Trần Mạnh Chí nhận xét kết quả xa trong điều trị ngoại khoa 158 trường hợp TVĐĐ có kết quả tốt và cải thiện triệu chứng rõ 86,5% [19]. Năm 1999, Nguyễn Văn Thông nhận xét kết quả điều trị 1390 trường hợp đau thần kinh hông do TVĐĐ cột sống thắt lưng thể ra sau-sau bên giai đoạn bán cấp và mãn tính đạt kết quả khá, tốt là 80% [34].
5 Năm 2002, Vũ Hùng Liên, Bùi Quang Tuyển đưa ra kết quả điều trị ngoại khoa 2303 trường hợp TVĐĐ thắt lưng cùng tại viện Quân y 103 từ 1996-2002 [21]. Hiện nay, nhiều phương pháp mới được áp dụng trong điều trị TVĐĐ: Laser, sóng Radio, vi phẫu thuật, nội soi, hoặc dùng hệ thống ống panh tách cơ (Metrs). Giải phẫu, sinh lý, chức năng của cột sống thắt lƣng 1. Đặc điểm giải phẫu, sinh lý vùng cột sống thắt lƣng - cùng Cột sống của con người là trụ cột của cơ thể, bao bọc và bảo vệ tuỷ sống.
người trưởng thành cột sống dài khoảng 60 - 70cm từ mặt dưới xương chẩm tận hết ở xương cụt, nó bao gồm 33 - 35 đốt sống chia thành 5 đoạn: Hình 1. Phân đoạn cột sống [9] - Đoạn cột sống cổ gồm 7 đốt (C1 - C7) dài khoảng 12cm cong lõm ra sau. - Đoạn sống ngực gồm 12 đốt (T1 - T12) dài 28cm cong lõm ra trước. 6 - Đoạn sống thắt lưng gồm 5 đốt (L1 - L5) dài khoảng 18cm lõm ra sau.
- Xương cùng gồm 5 đốt (S1 - S5) dính với nhau tạo thành một khối. - Xương cụt gồm 4 - 6 đốt sống dính với nhau tạo nên một khối xương. Đoạn cùng cụt bắt đầu từ khớp thắt lưng cùng tới đỉnh xương cụt dài khoảng 12cm cong lõm xuống dưới và ra trước. Đặc điểm của đĩa đệm thắt lƣng Đoạn CSTL có năm đốt sống từ L1 - L5 với bốn đĩa đệm thắt lưng và hai đĩa đệm chuyển đoạn thắt lưng ngực và thắt lưng cùng, chiều cao của đĩa đệm thay đổi theo từng đoạn cột sống.
Người trưởng thành bình thường chiều cao đĩa đệm đoạn cột sống cổ là 3mm, đoạn ngực 5mm, đoạn thắt lưng 9mm, trong đó đĩa đệm L4- L5 cao nhất và đĩa đệm L5- S1 thấp hơn đĩa đệm L4-L5 khoảng 1/3 chiều cao. Đĩa đệm có cấu trúc đặc thù nằm trong khoang gian đốt, tên của mỗi đĩa đệm được gọi theo tên của những đốt sống lân cận [25]. Do độ ưỡn của CSTL nên chiều cao đĩa đệm ở phía trước lớn hơn phía sau. Đĩa đệm là một đĩa sụn sợi gồm hai phần: Phần chu vi là vòng sợi (anulusfibrosus) và phần trung tâm là nhân nhầy (nucleus pulposus) [25].
1 - Nhân nhầy 2 - Vòng sợi 3 - Mảnh sụn trong Hình 1. Cấu trúc đĩa đệm [27] * Nhân nhầy Có hình cầu hoặc hình bầu dục nằm trong vòng sợi ở khoảng 1/3 sau của đĩa đệm chiếm khoảng 40% bề mặt cắt ngang của đĩa đệm. Đây là yếu tố 7 thuận lợi để TVĐĐ hay xảy ra ở phía sau. Khi vận động thì nhân nhầy sẽ chuyển động dồn về phía đối diện đồng thời vòng sụn cũng bị giãn ra.
Nhân nhầy được cấu tạo bởi một màng liên kết hình thành những khoang mắt lưới chứa chất cơ bản nhầy lỏng (thời kỳ bào thai khoảng tuần thứ 24) và sau này chứa tổ chức keo nhầy mucoprotein. Với người trẻ tế bào này liên kết với nhau rất chặt chẽ, còn ở người già tế bào của tổ chức nhân nhầy trở nên lỏng lẻo. Nhờ khả năng dịch chuyển sinh lý vốn có của nhân nhầy và tính đàn hồi của vòng sợi mà đĩa đệm thực hiện được chức năng làm hệ thống đệm sinh học dễ thích nghi, có sức chịu đựng đối với các loại tải trọng tĩnh, động của cột sống. Khi đĩa đệm bị thoái hoá vòng sợi bị rạn nứt, mất tính đàn hồi thì nhân nhầy dễ dàng thoát ra khỏi giới hạn sinh lý [2, 24].