Tổng quan luận án

Luận án Bác sĩ Chuyên khoa cấp II chuyên ngành Ngoại khoa (Mã số: CK 62 72 07 50) của tác giả Chu Bá Tám, được thực hiện tại Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Vũ Thị Hồng Anh (năm 2014), nghiên cứu về đề tài: "Thực trạng bệnh lý tồn tại ống phúc tinh mạc và kết quả phẫu thuật thoát vị bẹn thường ở trẻ em tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang".

Về mặt phôi thai học, vào khoảng tháng thứ 7 của thai kỳ, khi tinh hoàn di chuyển từ sau phúc mạc vùng thắt lưng xuống bìu sẽ kéo theo nếp phúc mạc ngang qua ống bẹn đi ra lỗ bẹn nông, tạo thành một túi dạng ống gọi là ống phúc tinh mạc. Thông thường, ống phúc tinh mạc tự bít kín từ lỗ bẹn sâu đến tinh hoàn để lại di tích là dây chằng Cloquet. Nếu quá trình bít tắc này không hoàn thành sẽ dẫn đến bệnh lý tồn tại ống phúc tinh mạc. Ở trẻ nam, thương tổn này biểu hiện dưới ba hình thái chính gồm: thoát vị bẹn, nang nước thừng tinh và tràn dịch màng tinh hoàn. Ở trẻ nữ, sự tồn tại của ống Nuck cũng là yếu tố nguy cơ trực tiếp gây thoát vị bẹn.

Theo y văn được tác giả tổng kết, tỷ lệ thoát vị bẹn chiếm khoảng 1% đến 5% ở trẻ sinh đủ tháng khỏe mạnh và tăng cao lên tới 30% ở trẻ đẻ non; tỷ lệ trong cộng đồng dao động từ 0,8% đến 1% (theo Bronsther B., Abrams M.W., Elboim C. là 0,8% đến 4,4%). Thoát vị bẹn ở trẻ em tiềm ẩn nguy cơ nghẹt tạng thoát vị (ruột, mạc nối, buồng trứng) dẫn đến hoại tử nếu không được can thiệp kịp thời, đồng thời khối thoát vị trượt lên xuống nhiều lần có thể chèn ép bó mạch thừng tinh gây teo tinh hoàn.

Khoảng trống nghiên cứu và y văn được tác giả xác định bao gồm:

  1. Về mặt học thuật: Thời điểm can thiệp phẫu thuật thoát vị bẹn ở trẻ em còn tồn tại quan điểm chưa thống nhất giữa các trường phái. Một số tác giả chủ trương phẫu thuật sớm ngay khi có chẩn đoán để ngăn ngừa biến chứng nghẹt; trong khi nhóm tác giả khác cho rằng ống phúc tinh mạc có thể tiếp tục tự đóng trong 12 đến 18 tháng đầu sau sinh nên có thể trì hoãn can thiệp nhằm hạn chế khó khăn kỹ thuật ở lứa tuổi sơ sinh.
  2. Về mặt thực tiễn cơ sở: Tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang, số lượng bệnh nhi mắc bệnh lý tồn tại ống phúc tinh mạc và thoát vị bẹn đến phẫu thuật chiếm tỷ lệ tương đối lớn (độ tuổi trải dài từ vài tháng tuổi đến lứa tuổi trung học cơ sở), tuy nhiên thực trạng dịch tễ học lâm sàng cũng như kết quả can thiệp phẫu thuật tại đơn vị chưa từng được tổng kết, đánh giá có hệ thống.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể gồm hai nội dung:

  1. Mô tả thực trạng bệnh lý tồn tại ống phúc tinh mạc ở trẻ em tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang từ năm 2010 đến năm 2014.
  2. Đánh giá kết quả phẫu thuật thoát vị bẹn thường ở trẻ em tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhi từ 4 tháng đến 16 tuổi thuộc cả hai giới được chẩn đoán xác định bệnh lý tồn tại ống phúc tinh mạc hoặc còn ống Nuck và được điều trị phẫu thuật tại bệnh viện. Mẫu nghiên cứu thực trạng (Mục tiêu 1) gồm 336 bệnh nhi; mẫu đánh giá kết quả phẫu thuật thoát vị bẹn thường (Mục tiêu 2) gồm 233 bệnh nhi (213 bệnh nhi nam và 20 bệnh nhi nữ).
  • Phạm vi không gian: Khoa Ngoại Tổng hợp, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập và theo dõi số liệu từ tháng 01/2010 đến tháng 06/2014 (thời gian hoàn thành nghiên cứu tháng 08/2014).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan, tác giả đã hệ thống hóa lịch sử phát triển của kỹ thuật giải phẫu và điều trị phẫu thuật thoát vị bẹn qua các mốc thời gian và các công trình kinh điển:

  • Giai đoạn cổ đại và phục hưng: Ghi nhận điều trị bảo tồn bằng băng ép tại Hy Lạp khoảng 1500 năm trước Công nguyên; mô tả phẫu thuật cắt bỏ khối thoát vị cùng tinh hoàn của Celsus vào năm 25 sau Công nguyên; phẫu thuật mở lỗ bẹn sâu giải phóng ruột nghẹt của Franco (1556); kỹ thuật cắt bỏ túi thoát vị của Stromayr (1559); và ca mổ thoát vị bẹn nghẹt thành công cắt mạc nối dính của William Cheselden (1721).
  • Giai đoạn hoàn thiện giải phẫu học thế kỷ 18-19: Các mô tả chi tiết về cấu trúc vùng bẹn của Pott (1756), Richter (1778), De Gimbernat (1793 - dây chằng khuyết), Camper (1801), Cooper (1804, 1807 - mạc ngang và dây chằng lược), Scarpa (1812 - cân Scarpa), Hesselbach (1816 - dây chằng gian hố), Cloquet (1817 - di tích ống phúc tinh mạc). Kỹ thuật vô khuẩn của Lister (1867) và công bố kháng khuẩn trong mổ thoát vị bẹn của Marcy (1871).
  • Giai đoạn định hình phương pháp can thiệp hiện đại: Kỹ thuật tái tạo thành bẹn kinh điển của Edoardo Bassini (1884) với việc khâu ba lớp (cân cơ chéo bé, cơ ngang bụng, mạc ngang) vào dây chằng bẹn; các cải tiến của Halsted (1889); quan điểm phẫu thuật triệt để chọn lọc và cho xuất viện sớm của MacLennan (1914). Đặc biệt, các công trình của Ferguson, Pott, Riker và Lewis đã định hình nguyên tắc phẫu thuật thoát vị bẹn trẻ em là chỉ cần phẫu tích thắt cao cổ túi thoát vị tại lỗ bẹn sâu mà không cần tái tạo thành bụng.
  • Các nghiên cứu chuyên sâu về dịch tễ học và sinh bệnh học:
    • Sean Collins tổng kết các bệnh lý làm tăng áp lực ổ bụng thúc đẩy tồn tại ống phúc tinh mạc (tinh hoàn ẩn, lỗ đái thấp, lỗ niệu đạo mở trên, bàng quang lộ ngoài, dẫn lưu não thất ổ bụng, xơ gan cổ trướng, thẩm phân phúc mạc, đẻ non, cân nặng sinh thấp, viêm phúc mạc phân su).
    • Tỷ lệ tồn tại ống phúc tinh mạc không triệu chứng ở người lớn được phát hiện qua tử thiết từ 15% đến 37% (tài liệu [53], [55]).
    • Về vị trí và dịch tễ: Rowe và Clatworthy ghi nhận thoát vị bẹn trẻ em gặp nhiều ở bên phải (60%), bên trái (30-32%), hai bên (8-10%); tỷ lệ nam/nữ dao động từ 3/1 đến 10/1; Rajput ghi nhận tỷ lệ mắc ở trẻ đẻ non cân nặng rất thấp là 26% ở bé trai và 7% ở bé gái.
    • Về vấn đề thăm dò ống phúc tinh mạc bên đối diện: Tỷ lệ tồn tại ống phúc tinh mạc bên đối diện tiềm tàng từ 46% đến 63%, tuy nhiên tỷ lệ phát triển thành thoát vị bẹn thực sự qua theo dõi dọc của Sparkman (1944 bệnh nhân) là 15,8% và của Bock, Sobye (174 bệnh nhân) là 14,9%. Gad Lotan (2004) đề xuất kỹ thuật nội soi ổ bụng kiểm tra đối bên trong 2 phút.
    • Về biến chứng phẫu thuật: Fischer ghi nhận tỷ lệ teo tinh hoàn 1% và giảm thể tích tinh hoàn 2,7%; Rowe và Parelkar (437 bệnh nhân) không ghi nhận ca teo tinh hoàn; Sparkman ghi nhận tổn thương ống dẫn tinh 1,6%; thực nghiệm của Shandling và Janik trên chuột chứng minh nguy cơ tắc ống dẫn tinh do dùng dụng cụ kẹp trực tiếp.
  • Các công trình nghiên cứu trong nước:
    • Nguyễn Ngọc Hà nghiên cứu kết quả mổ thoát vị bẹn trẻ em tại Bệnh viện Việt Đức (khỏi 99,06%, tái phát 0,4%, tinh hoàn không xuống bìu 0,4%, đau tê bì 1,3%) và tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Ninh (khỏi 94,8%, tái phát 5,2%, tinh hoàn không xuống bìu 1,3%).
    • Bùi Đức Phú và Nguyễn Lương Tấn tại Bệnh viện Trung ương Huế (khỏi 92%, tái phát 8%, teo tinh hoàn 6,3%, đau tê bì 9,4%).
    • Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả được tham chiếu từ các tác giả Bùi Văn Tèo, Phạm Văn Tâm, Nguyễn Văn Liễu, Tạ Xuân Sơn.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết là đánh giá thực trạng mô hình bệnh tật do tồn tại ống phúc tinh mạc tại một bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh miền núi phía Bắc (Bắc Giang), đồng thời kiểm chứng tính an toàn, hiệu quả và tỷ lệ biến chứng của phẫu thuật thắt cao cổ bao thoát vị qua đường nếp lằn bụng dưới tại tuyến điều trị này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên nền tảng lý thuyết giải phẫu học định khu vùng bẹn, phôi thai học hệ tiết niệu - sinh dục và phân loại bệnh sinh thoát vị bẹn của Đỗ Đức Vân:

  • Khung phân tích giải phẫu: Cấu trúc thành bụng vùng bẹn gồm các lớp từ nông vào sâu (da, mỡ dưới da, mạc Scarpa, cân cơ chéo lớn, cơ chéo bé, cơ ngang bụng, mạc ngang, mỡ trước phúc mạc, phúc mạc thành). Ống bẹn dài 4-6 cm, hợp với cung đùi góc 150 độ và đường ngang góc 45 độ; giới hạn bởi lỗ bẹn nông và lỗ bẹn sâu. Vùng bẹn có 3 hố bẹn (ngoài, giữa, trong), trong đó hố bẹn ngoài là nơi xuất phát của thoát vị bẹn gián tiếp bẩm sinh qua lỗ bẹn sâu vào ống bẹn.
  • Cơ chế hình thái học: Dựa trên mức độ bít tắc của ống phúc tinh mạc để phân định: thoát vị bẹn - bìu (ống mở hoàn toàn); tràn dịch màng tinh hoàn có thông thương (đầu dưới mở, đầu trên thông thương lỗ nhỏ); tràn dịch màng tinh hoàn không thông thương (đầu trên bít kín, đầu dưới tích dịch); nang nước thừng tinh hoặc nang ống Nuck (hai đầu bít kín, đoạn giữa giãn chứa dịch).

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp hồi cứu và tiến cứu.
  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện có chủ đích.
    • Mẫu mô tả thực trạng (Mục tiêu 1): n = 336 bệnh nhi ≤ 16 tuổi mắc các thể bệnh do tồn tại ống phúc tinh mạc.
    • Mẫu đánh giá kết quả can thiệp (Mục tiêu 2): n = 233 bệnh nhi được phẫu thuật thoát vị bẹn thường (gồm 213 nam và 20 nữ).
  • Kỹ thuật phẫu thuật áp dụng:
    • Đường rạch da ngang theo nếp lằn bụng dưới dài 2-3 cm, phía trên ngoài gai mu.
    • Rạch mở cân Scarpa và cân cơ chéo lớn theo chiều thớ sợi, bộc lộ và bảo tồn dây thần kinh chậu bẹn.
    • Phẫu tích bóc tách bao thoát vị khỏi thừng tinh (không dùng kẹp trực tiếp vào ống dẫn tinh và mạch máu tinh hoàn; dùng pince chụm hoặc gạc gạt đẩy).
    • Mở bao kiểm tra tạng, phẫu tích cổ bao lên sát lỗ bẹn sâu đến khi thấy lớp mỡ vàng trước phúc mạc.
    • Xoắn cổ túi 2-3 vòng, khâu xuyên và buộc thắt sát lỗ bẹn sâu; cắt bỏ phần bao thừa, để ngỏ đầu dưới.
    • Ở trẻ gái có dính buồng trứng/vòi trứng: rạch mặt trong bao hai bên vòi trứng, làm mũi khâu chờ đưa phần phụ vào ổ bụng trước khi thắt cổ bao.
  • Tiêu chuẩn đánh giá kết quả:
Giai đoạn đánh giá Phân loại Tiêu chuẩn lâm sàng cụ thể
Kết quả sớm (Hậu phẫu) Tốt Vết mổ khô, đau ít không cần dùng giảm đau, bìu sưng nhẹ không cần kháng viêm, không sốt hoặc sốt nhẹ (37°C đến dưới 38°C).
Trung bình Sốt từ 38°C trở lên, đau nhiều cần dùng hạ nhiệt giảm đau, sưng bìu phải dùng kháng viêm, tụ máu vết mổ khu trú đường kính < 0,5 cm bề mặt phẳng chưa cần mổ lại.
Kém Tụ máu lớn vùng bìu/vết mổ (đường kính > 0,5 cm gồ mặt da, tím thẫm) phải phẫu thuật lại cầm máu; nhiễm trùng vết mổ, viêm phúc mạc phải phẫu thuật lại.
Kết quả xa (≥ 6 tháng) Khám lại / Theo dõi Đánh giá rối loạn cảm giác (đau, tê bì), hình thái sẹo mổ (mờ mịn phẳng vs lồi, co rút), kích thước tinh hoàn (đánh giá teo tinh hoàn so với bên lành), tình trạng tái phát thoát vị.

Nguồn tư liệu và dữ liệu: Hồ sơ bệnh án điều trị nội trú tại Khoa Ngoại Tổng hợp và Phòng Kế hoạch Tổng hợp Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang từ tháng 01/2010 đến tháng 06/2014, kết hợp phiếu thu thập thông tin tái khám, thư mời và liên lạc điện thoại với gia đình bệnh nhi.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tập trung trình bày hệ thống cơ sở lý luận và tổng thuật y văn liên quan đến đề tài:

  • Phân tích chi tiết đặc điểm giải phẫu vùng bẹn bụng, cấu trúc 4 thành của ống bẹn, cấu tạo thừng tinh, giải phẫu học thần kinh (thần kinh chậu hạ vị, chậu bẹn, sinh dục đùi) và các mạch máu liên quan.
  • Trình bày quá trình phát triển phôi thai của ống phúc tinh mạc và cơ chế bệnh sinh của các hình thái tổn thương (thoát vị bẹn gián tiếp bẩm sinh, nang nước thừng tinh, tràn dịch màng tinh hoàn, nang ống Nuck).
  • Hệ thống hóa các phương pháp chẩn đoán lâm sàng, nghiệm pháp tăng áp lực ổ bụng (nghiệm pháp Valsalva), giá trị chẩn đoán phân biệt của siêu âm vùng bẹn bìu; nhận định dấu hiệu thoát vị bẹn nghẹt và thoát vị bẹn hai bên ở trẻ gái có nguy cơ mắc hội chứng không nhạy cảm hoàn toàn với Androgen (nam lưỡng giới giả).
  • Đánh giá các phương pháp điều trị: chỉ định bảo tồn tạm thời bằng băng treo (Devlin H.), các kỹ thuật vô cảm (gây mê nội khí quản, gây tê ngoài màng cứng qua khe xương cùng - phương pháp Caudal kết hợp thuốc mê bốc hơi Halothane, Forane, Sevoflurane), kỹ thuật mổ thắt cao cổ bao thoát vị theo nguyên tắc Ferguson và tổng kết các biến chứng phẫu thuật trong y văn trong nước và quốc tế.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình tổ chức nghiên cứu và phương pháp thu thập dữ liệu:

  • Xác lập tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhi: Tuổi từ 4 tháng đến 16 tuổi điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang từ tháng 01/2010 đến tháng 06/2014, có chẩn đoán xác định sau mổ là bệnh lý tồn tại ống phúc tinh mạc (336 bệnh nhi cho Mục tiêu 1 và 233 bệnh nhi thoát vị bẹn thường cho Mục tiêu 2).
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Các trường hợp hồ sơ bệnh án không đầy đủ thông tin nghiên cứu.
  • Địa điểm và nhân lực: Khoa Ngoại Tổng hợp Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang với quy mô 10 bác sĩ (gồm BSCKI, Thạc sĩ, BSCKII), lưu lượng phẫu thuật ngoại nhi khoảng 300 ca/năm.
  • Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, chọn mẫu thuận tiện có chủ đích.
  • Quy chuẩn hóa các biến số nghiên cứu: phân loại hình thái bệnh, phân bố tuổi, thời gian từ khi biểu hiện bệnh đến khi mổ, địa dư cư trú (thành thị/nông thôn), nghề nghiệp bố mẹ, thời gian phẫu thuật (tính bằng phút từ rạch da đến khâu xong), các phương pháp vô cảm, tai biến trong mổ, số ngày điều trị hậu phẫu, các tiêu chí đánh giá kết quả sớm và kết quả theo dõi sau mổ ít nhất 6 tháng.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 tổng hợp toàn bộ các phát hiện và số liệu thực chứng thông qua hệ thống các bảng và biểu đồ nghiên cứu:

  • Thực trạng bệnh lý tồn tại ống phúc tinh mạc (n = 336):
    • Tỷ lệ bệnh lý ống phúc tinh mạc chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng số bệnh nhi phẫu thuật ngoại khoa tại bệnh viện qua các năm từ 2010 đến 2014.
    • Cơ cấu hình thái bệnh lý: Phân bố tỷ lệ giữa thoát vị bẹn thường, thoát vị bẹn nghẹt, nang nước thừng tinh và tràn dịch màng tinh hoàn.
    • Phân bố theo nhóm tuổi: Khảo sát theo 4 nhóm tuổi (< 1 tuổi, 1-5 tuổi, 6-10 tuổi, 11-16 tuổi).
    • Phân bố theo thời gian biểu hiện bệnh: Phân nhóm theo thời gian phát hiện đến khi phẫu thuật (≤ 1 tháng, 2-12 tháng, 13-36 tháng, > 36 tháng).
    • Phân tích tương quan giữa tuổi phẫu thuật, thời gian mang bệnh với đặc điểm địa dư (thành thị so với nông thôn) và nghề nghiệp của bố mẹ bệnh nhi.
  • Kết quả phẫu thuật thoát vị bẹn thường (n = 233):
    • Thời gian phẫu thuật trung bình (phút) được phân tích theo từng nhóm tuổi bệnh nhi.
    • Tỷ lệ áp dụng các phương pháp vô cảm (gây tê vùng tủy sống/khoang cùng, gây mê tĩnh mạch, gây mê nội khí quản).
    • Ghi nhận các khó khăn, tai biến phẫu thuật và tai biến gây mê (tai biến hô hấp, suy thở, trào ngược; kiểm soát tổn thương mạch máu, thừng tinh, thần kinh, bàng quang).
    • Tỷ lệ xuất hiện các rối loạn và biến chứng sớm sau mổ: mức độ đau, sốt, tỷ lệ sưng nề bìu, tụ máu vết mổ.
    • Thời gian nằm viện: Thống kê số ngày điều trị hậu phẫu trung bình.
    • Tỷ lệ kết quả sớm (Tốt, Trung bình, Kém) phân tích tương quan theo nhóm tuổi, thời gian biểu hiện bệnh, vị trí thoát vị (bên phải, bên trái, hai bên) và thời gian phẫu thuật.
    • Kết quả theo dõi xa (tối thiểu 6 tháng qua Biểu đồ 3.4): Tỷ lệ liền sẹo vết mổ, tỷ lệ rối loạn cảm giác vùng bẹn bìu (đau, tê bì), tỷ lệ teo tinh hoàn và tỷ lệ tái phát thoát vị bẹn; đối chiếu với các công bố của Nguyễn Ngọc Hà, Bùi Đức Phú, Rowe, Fischer, Sparkman.

Kết quả và những đóng góp mới

Các đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn của luận án:

  • Về mặt lý luận và khoa học: Luận án cung cấp bức tranh dịch tễ học và lâm sàng có hệ thống đầu tiên về các bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh mạc ở trẻ em tại tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn 5 năm (2010 - 2014). Công trình kiểm chứng và khẳng định nguyên tắc phẫu thuật thắt cao cổ bao thoát vị sát lỗ bẹn sâu (không can thiệp tái tạo thành bẹn) là hoàn toàn phù hợp về mặt sinh bệnh học và giải phẫu học ở bệnh nhi.
  • Về mặt thực tiễn điều trị:
    • Chứng minh kỹ thuật phẫu thuật qua đường nếp lằn bụng dưới mang lại hiệu quả cao, tỷ lệ biến chứng thấp, đảm bảo tính thẩm mỹ và an toàn khi triển khai tại bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh.
    • Chỉ ra mối liên quan giữa nhận thức của phụ huynh, điều kiện địa dư (nông thôn so với thành thị) đối với thời gian phát hiện và đưa trẻ đi can thiệp phẫu thuật.

Các kiến nghị và giải pháp đề xuất từ nghiên cứu:

  • Tiếp tục áp dụng và chuẩn hóa quy trình phẫu thuật thắt cao cổ túi thoát vị tại lỗ bẹn sâu theo đường nếp lằn bụng dưới cho bệnh nhi thoát vị bẹn thường tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang và các bệnh viện tuyến tỉnh.
  • Trong phẫu thuật, phẫu thuật viên cần tuân thủ nguyên tắc phẫu tích nhẹ nhàng, không dùng kẹp trực tiếp vào bó mạch thừng tinh và ống dẫn tinh để tránh nguy cơ teo tinh hoàn và tắc nghẽn vô sinh thứ phát; luôn kiểm tra và đưa tinh hoàn về đúng vị trí đáy bìu trước khi đóng vết mổ nhằm ngăn ngừa biến chứng tinh hoàn co rút lên cao.
  • Tăng cường công tác truyền thông giáo dục sức khỏe tại cộng đồng, đặc biệt tại khu vực nông thôn, nhằm nâng cao nhận thức của gia đình trong việc phát hiện sớm các bất thường vùng bẹn bìu ở trẻ nhỏ, giúp trẻ được đưa đến cơ sở y tế điều trị theo chương trình, tránh để muộn dẫn đến biến chứng nghẹt.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu:
    • Nghiên cứu thực hiện chọn mẫu thuận tiện tại một trung tâm y tế duy nhất (Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang), chưa mở rộng điều tra đa trung tâm.
    • Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhi của nghiên cứu bắt đầu từ 4 tháng tuổi trở lên (do quy định tiếp nhận phẫu thuật ngoại nhi tại đơn vị ở thời điểm nghiên cứu), do đó số liệu chưa phản ánh toàn diện nhóm bệnh nhi sơ sinh và trẻ dưới 4 tháng tuổi.
    • Phương thức theo dõi kết quả xa ở một số bệnh nhi còn phụ thuộc vào thông tin gián tiếp qua thư và điện thoại do gia đình không đưa trẻ đến tái khám trực tiếp tại viện.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng phạm vi nghiên cứu trên nhóm trẻ sơ sinh, trẻ đẻ non và trẻ dưới 4 tháng tuổi mắc bệnh lý tồn tại ống phúc tinh mạc.
    • Triển khai ứng dụng và đánh giá so sánh hiệu quả của kỹ thuật phẫu thuật nội soi (nội soi một lỗ, nội soi kiểm tra và thắt ống phúc tinh mạc bên đối diện) so với phẫu thuật mổ mở kinh điển khi bệnh viện được trang bị phương tiện kỹ thuật phù hợp.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo hữu ích cho các đối tượng trong ngành y tế:

  • Bác sĩ chuyên khoa Ngoại khoa, Ngoại Nhi và Phẫu thuật viên tuyến cơ sở: Cung cấp tài liệu tham khảo chi tiết về các mốc giải phẫu vùng bẹn, chỉ định vô cảm phù hợp theo lứa tuổi, kỹ thuật bộc lộ lỗ bẹn sâu, kỹ thuật xử trí vòi trứng dính ở trẻ gái và các biện pháp kỹ thuật phòng ngừa tổn thương mạch máu, ống dẫn tinh và thần kinh bẹn bìu.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên sau đại học (Bác sĩ Chuyên khoa I, Chuyên khoa II, Bác sĩ Nội trú, Thạc sĩ Ngoại khoa): Tham khảo khung lý thuyết giải phẫu - phôi thai học ống phúc tinh mạc, tổng quan lịch sử can thiệp ngoại khoa vùng bẹn và phương pháp thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang đánh giá can thiệp ngoại khoa.
  • Cán bộ quản lý y tế và y tế công cộng: Sử dụng các dữ liệu dịch tễ học và các yếu tố liên quan đến việc chậm trễ phẫu thuật để xây dựng kế hoạch đào tạo chuyên môn ngoại nhi và chương trình truyền thông y tế tuyến huyện, tuyến xã.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ chế sinh bệnh học của các tổn thương do tồn tại ống phúc tinh mạc ở trẻ em được phân định như thế nào?
Sự tồn tại của ống phúc tinh mạc do không bít kín trong thời kỳ phôi thai dẫn đến các hình thái bệnh lý tùy thuộc vào vị trí và mức độ đóng: nếu ống mở hoàn toàn từ ổ bụng xuống bìu sẽ gây thoát vị bẹn - bìu; nếu đầu trên bít không hoàn toàn (còn lỗ nhỏ thông thương) và đầu dưới mở sẽ gây tràn dịch màng tinh hoàn có thông thương; nếu đầu trên bít kín hoàn toàn nhưng đầu dưới không bít sẽ tạo tràn dịch màng tinh hoàn không thông thương; nếu bít kín cả hai đầu nhưng đoạn giữa còn mở sẽ tạo thành nang nước thừng tinh (ở trẻ gái tạo nang ống Nuck).

2. Tại sao trong phẫu thuật thoát vị bẹn ở trẻ em không cần thực hiện tái tạo thành bẹn như ở người lớn?
Thoát vị bẹn ở trẻ em hầu hết là thoát vị bẹn gián tiếp bẩm sinh do còn tồn tại ống phúc tinh mạc, các cấu trúc cân cơ thành bụng và mạc ngang vùng bẹn của trẻ phát triển bình thường, không bị suy yếu mắc phải như người lớn. Do đó, theo nguyên tắc phẫu thuật Ferguson, phẫu thuật viên chỉ cần bóc tách và thắt cao cổ bao thoát vị sát lỗ bẹn sâu mà không cần can thiệp khâu phục hồi hay tái tạo thành bẹn.

3. Quan điểm của y văn về việc phẫu thuật thăm dò ống phúc tinh mạc bên đối diện được tác giả điểm lại ra sao?
Y văn ghi nhận tỷ lệ còn tồn tại ống phúc tinh mạc bên đối diện tiềm tàng khá cao (từ 46% đến 63%), tuy nhiên tỷ lệ phát triển thành thoát vị bẹn thực sự sau này chỉ chiếm từ 14,9% đến 15,8% (theo theo dõi của Sparkman, Bock và Sobye). Việc mổ mở thăm dò thường quy có tỷ lệ âm tính cao (2/5 ở trẻ nhỏ, 3/5 ở trẻ lớn). Do đó, xu hướng hiện nay chỉ ủng hộ thăm dò đối bên trong các trường hợp có kinh nghiệm hoặc áp dụng nội soi kiểm tra nhanh qua bao thoát vị trong mổ (theo Gad Lotan, 2004).

4. Tiêu chuẩn đánh giá kết quả sớm sau mổ thoát vị bẹn thường trong luận án được phân loại như thế nào?
Kết quả sớm được chia làm 3 mức độ: Loại Tốt (vết mổ khô, đau ít không cần giảm đau, bìu sưng nhẹ không cần kháng viêm, không sốt hoặc sốt < 38°C); Loại Trung bình (sốt ≥ 38°C, đau nhiều cần hạ nhiệt giảm đau, sưng bìu cần dùng kháng viêm, tụ máu vết mổ < 0,5 cm bề mặt phẳng chưa cần mổ lại); Loại Kém (tụ máu lớn > 0,5 cm gồ mặt da tím thẫm phải mổ lại cầm máu; nhiễm trùng vết mổ hoặc viêm phúc mạc phải mổ lại).

5. Những nguyên nhân chính nào gây tai biến tổn thương ống dẫn tinh và tái phát sau phẫu thuật được tổng kết trong luận án?
Tổn thương ống dẫn tinh thường do phẫu tích thô bạo hoặc dùng kẹp dụng cụ kẹp trực tiếp vào cấu trúc ống dẫn tinh trong quá trình tách bao thoát vị (đã được Shandling và Janik chứng minh thực nghiệm). Nguyên nhân tái phát chủ yếu do xé rách bao thoát vị, phẫu tích chưa lên tới lỗ bẹn sâu, thắt cổ bao không đủ cao sát lớp mỡ trước phúc mạc hoặc do tuột chỉ buộc cổ bao.

Kết luận

Luận án Bác sĩ Chuyên khoa cấp II của tác giả Chu Bá Tám đã mô tả toàn diện thực trạng bệnh lý tồn tại ống phúc tinh mạc trên 336 bệnh nhi và đánh giá kết quả phẫu thuật thoát vị bẹn thường trên 233 bệnh nhi tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2010 - 2014. Công trình khẳng định phương pháp phẫu thuật thắt cao cổ bao thoát vị tại lỗ bẹn sâu theo đường nếp lằn bụng dưới là giải pháp can thiệp triệt để, an toàn, có tính thẩm mỹ và tỷ lệ biến chứng thấp. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở thực tiễn quan trọng cho việc chuẩn hóa kỹ thuật điều trị ngoại nhi và định hướng công tác truyền thông phát hiện bệnh sớm tại tuyến y tế cơ sở.